Xu hướng giáo dục đại học toàn cầu năm 2015

    0
    1576

    Here are 4 main  trends of higher education in the world in 2015.

    - The emergence of online marketing

    - The continuing growth of Massive Open Online Courses (MOOCs)

    - Benchmarking as an appropriate tool of quality assurance

    - Government strategies in internationalization of higher education

    1. Sự nổi lên của online marketing (tiếp thị trực tuyến)

    Đáp ứng nhu cầu thực tiễn của những sinh viên thế hệ Internet, trong những năm gần đây, online marketing đã ngày càng được tận dụng triệt để bởi những nhà quảng bá sản phẩm giáo dục trong các nỗ lực marketing của họ. Xu hướng này tiếp tục định hình thực tiễn hoạt động marketing năm 2015.

    Một bảng khảo sát được tạp chí The Guardian thực hiện năm 2015 cho thấy 72% số người trả lời đồng ý rằng online marketing hiện nay được coi trọng hơn so với 5 năm trước đây. Con số tương ứng xem xét tầm quan trọng của truyền thông xã hội thậm chí còn ấn tượng hơn: 98% người được hỏi trả lời đồng ý.

    Cùng trong bối cảnh đó, một cuộc khảo sát được tiến hành bởi Agent Barometer (2015) đã chỉ ra rằng trong số 1.671 công ty phụ trách tuyển sinh đến từ 110 quốc gia, có 63% số người được hỏi cho rằng hơn 20% khách hàng tiềm năng của họ đến từ các nguồn trực tuyến. Dữ liệu này là trong năm 2015.

    Tháng 11 năm 2015, Hanover Research đã đưa ra một báo cáo về các xu hướng mới trong tiếp thi sản phẩm giáo dục đại học, tuyển sinh và công nghệ, trong đó bốn hoạt động tốt nhất mà các trường đại học và cao đẳng có được khi áp dụng công nghệ trong xây dựng thương hiệu và tiếp thị đã được xác định và đề xuất như sau:

    1. Thiết kế mang tính tương tác và sử dụng được trên thiết bị di động
    2. Sử dụng phân tích web
    3. Truyền thông xã hội có chiến lược
    4. Tiếp thị tự động

    2. Sự phát triển nhanh của các khóa học trực tuyến mở (MOOCs)

    2015 đã chứng kiến một năm tăng trưởng mạnh của MOOCs. Dữ liệu do Class Central cho thấy rằng tổng số lượng sinh viên đăng ký MOOCs trong ba năm trước (2012-2014) thậm chí còn thấp hơn con số tương ứng vào năm 2015.

    Trong số các nền tảng MOOCs, Coursera một lần nữa dẫn đầu với 35,6% thị phần toàn cầu, tiếp theo là EDX (18,1%), Canvas (6,92%) và FutureLearn (5,68%). FutureLearn có trụ sở tại Anh được công nhận là nhà cung cấp MOOCs tăng trưởng nhanh nhất với mức tăng 275%, so với con số tương ứng vào năm ngoái.

    Hình 1 dưới đây thể hiện sự phân bố các khóa học theo môn:

    báo cáo FE

    3. Đối sánh – một công cụ thích hợp để đảm bảo chất lượng

    Hơn 10 năm qua, xếp hạng đã được coi là một công cụ mạnh mẽ để đánh giá chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, gần đây, ngày càng nhiều lập luận chỉ ra những hạn chế của phương pháp đảm bảo chất lượng này. Những lời chỉ trích phổ biến nhất đối với việc xếp hạng, đặc biệt là xếp hạng toàn cầu là quá tập trung vào những cơ sở giáo dục hàng đầu và các tổ chức nghiên cứu ưu tú, nhưng lại thờ ơ với phần lớn các trường đại học, cao đẳng có mục đích duy nhất là đào tạo ở cấp thấp hơn.

    Trong bối cảnh này, đối sánh ngày càng được đánh giá là một sự thay thế, có thể tránh được những hạn chế của việc xếp hạng.

    Trong số các hệ thống chuẩn hiện có, ở quy mô toàn cầu, QS stars là một trong những chuẩn đánh giá ưu thế nhất vì nó bao gồm các chỉ số hiệu suất của các tổ chức từ 40 quốc gia trên toàn thế giới.

    Trong bối cảnh đó, ở các cấp độ nhỏ hơn, một số hệ thống đối sánh cao cấp bao gồm U-Multirank, bắt đầu hoạt động vào năm 2013 bởi Liên minh Châu Âu hoặc Cao đẳng Scorecard, một hệ thống đánh giá được ông Obama đề xuất kể từ năm 2013 dùng cho việc đảm bảo chất lượng ở Mỹ.

    4. Chiến lược của chính phủ trong vấn đề quốc tế hóa giáo dục đại học

    Cả những nhà hoạch định chính sách và các nhà lãnh đạo tổ chức giáo dục đại học đa số đều công nhận sinh viên quốc tế như là một điểm kết mang tính quan trọng chiến lược. Trong năm 2015, những người phụ trách việc tuyển sinh viên quốc tế tiếp tục định hình chiến lược của chính phủ trong chính sách cải cách giáo dục đại học của họ.

    Ví dụ, trong Kế hoạch giáo dục 2015-2025, chính phủ Malaysia chọn Bakat (việc tuyển người tài trên thế giới) là một trong những trọng tâm chính trong cải cách giáo dục trong 10 năm tới, ngoài hai trọng tâm khác gồm đối sánh các tiêu chuẩn toàn cầu và cân bằng (các kỹ năng /kiến ​​thức và các yếu tố “tinh thần” của sinh viên tốt nghiệp đại học) (ICEF Monitor, 2015).

    Một trường hợp khác đáng chú ý liên quan đến Hàn Quốc với một chiến lược quốc gia mới trong giáo dục đại học đã được công bố vào tháng 10 này. Trong khuôn khổ mới, chính phủ Hàn Quốc mong đợi ​​sẽ thu hút khoảng 200.000 sinh viên quốc tế cho tới năm 2023. Mục tiêu này gần gấp ba lần con số ghi danh hiện tại.

    Để đạt được điều này, một kế hoạch khởi động đã ​​được đưa ra với các biện pháp sau đây:

    • Các chính sách mới cho phép các trường đại học mở các khóa học dành riêng cho sinh viên quốc tế
    • Mở khóa mới bằng tiếng Anh, đặc biệt trong ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học.
    • Nới lỏng quy định nhập cư cho sinh viên quốc tế tốt nghiệp muốn ở lại làm việc tại Hàn Quốc
    • Trợ phí cho các trường đại học Hàn Quốc trong các hoạt động tiếp thị và tuyển dụng. Ngân sách năm 2015 là khoảng 16 triệu USD.
    • Cung cấp các suất học bổng cho sinh viên châu Á để nghiên cứu một ngắn khóa học tại các trường đại học Hàn Quốc

    Nguồn: Báo cáo hoạt động thường niên Khối giáo dục FPT năm 2015

    NO COMMENTS