Tư duy thiết kế và Học tập qua dự án

    0
    5487
    Image credit: Beth Holland courtesy of Stanford dSchool

    Trong khi học tập qua dự án đã tồn tại trong nhiều thập kỷ, tư duy thiết kế gần đây mới bước vào từ vựng giáo dục, mặc dù lịch sử của nó có thể được truy nguyên từ cuốn sách The Sciences of the Artificial,1969, của Herbert A. Simon. Vậy tại sao những ý tưởng này trỗi dậy?

    Gần đây, tôi đã nghe các giáo viên và lãnh đạo nhà trường bày tỏ sự thất vọng chung: “Chúng tôi đã dành _______ năm cho một sáng kiến _______, và dường như không có cái gì thay đổi.” Mặc dù thiết kế lại không gian học tập, bổ sung công nghệ, hoặc thậm chí giảng dạy đảo ngược (flipping instruction), họ vẫn phải đấu tranh để đổi mới tích cực hoặc thay đổi tích cực (positively change) các trải nghiệm trong lớp học. Hãy tưởng tượng đổi mới như một chiếc ghế ba chân. Nhiều trường học đã thay đổi chân môi trường, nhưng không thay đổi hai chân còn lại: hành vi và niềm tin của các giáo viên, nhà quản trị và học sinh.

    Hãy xem xét câu hỏi hóc búa này: phần lớn những gì chúng ta biết về giảng dạy đến từ 16+ năm quan sát như học sinh. Không có nghề nghiệp nào mà bạn dành nhiều thời gian quan sát các thế hệ trước đó trước khi nói đến thay đổi tất cả mọi thứ một khi bạn mất kiểm soát. Nếu không có khung hoặc “giàn giáo” (scaffolding) cho sự thay đổi đó, thật sự không hợp lý để nói với các nhà giáo dục, “OK, bắt đầu đổi mới.”

    Nếu chúng ta xem xét khoa học cải tiến, thay đổi hệ thống xảy ra giữa bối cảnh của sự biện minh (những gì chúng ta biết) và khám phá (quá trình đổi mới). Nếu chúng ta xem PBL và tư duy thiết kế như là những cầu nối có thể có giữa hai bối cảnh này? Điều gì xảy ra nếu những khung này có thể phục vụ như sự biện minh cho việc khám phá thực tế lớp học mới?

    PBL và Kỹ năng thế kỉ 21

    Khuyến khích học sinh tham gia khám phá các bối cảnh thực tế, và chia sẻ kiến thức của họ là trọng tâm của PBL. Là một khung giảng dạy, nó cho phép giáo viên đạt được những mục tiêu này trong khi vẫn đáp ứng yêu cầu của chương trình giảng dạy.

    Mùa xuân năm ngoái, Billy Corcoran thiết kế một trải nghiệm PBL cho học sinh lớp 4  của mình trên Bãi biển Old Orchard, Maine. Ngoài việc đáp ứng hàng loạt các tiêu chuẩn, ông đã tạo ra một cơ hội cho các học sinh của mình tạo ra các kết nối cá nhân trong cộng đồng học sinh.

    Các yêu cầu công nghệ và nội dung cho dự án này trước đó đã tồn tại. Việc đổi mới xuất hiện trong sự thay đổi của hành vi và niềm tin. Ông đã sử dụng PBL để:

    • Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề
    • Hỗ trợ hợp tác và tư duy phản biện
    • Cung cấp ý kiến và lựa chọn cách học sinh thể hiện quá trình học tập của mình
    • Trao quyền để học sinh nhận ra rằng những đóng góp của họ cho cộng đồng tạo nên sự khác biệt hữu hình.

    Một dự án như dự án của Billy dường như khá khó khăn. Tuy nhiên, khi xem PBL là một quá trình chứ không phải là một sản phẩm có nghĩa là giáo viên có thể khớp nó với mục tiêu chương trình đào tạo hiện có, như được minh họa bởi Jodie Deinhammer. Mặc dù sinh viên khoa học của cô chủ yếu làm việc hướng tới các dự án lớn (năm nay, họ sẽ hợp tác tạo một cuốn sách cảm ứng đa điểm cho vườn thú Dallas cũng như đóng góp cho một khóa học iTunes U được gọi là Life Science), lớp học cá nhân vẫn giải quyết các kỹ năng cụ thể như tiếp nhận từ vựng hoặc nghiên cứu. Trong lớp học của Jodie, sinh viên làm chủ quá trình học tập của mình, tạo ra các kết nối thực tế, và biết rằng họ có chung một ngôn ngữ để chia sẻ, vượt ra ngoài ranh giới của các lớp học truyền thống.

    Kết hợp Tư duy thiết kế và PBL

    Tạo ra trải nghiệm PBL thực sự rất khó! Chuyển từ dự án đến PBL dường như vô cùng áp đảo. Tư duy thiết kế cung cấp một mẫu giáo viên “giàn giáo” tiềm năng khác để giúp vượt qua những trải nghiệm này.

    Theo hướng dẫn quy trình của Stanford d-School, tư duy thiết kế bắt đầu với sự đồng cảm (Empathize):

    • Học sinh của bạn xem điều gì là quan trọng?
    • Những chủ đề kích thích tính tò mò của họ?
    • Họ có thể muốn tham gia vào các nội dung cụ thể này như thế nào?
    • Họ có thể lựa chọn tiến trình học tập như thế nào?

    Jodie tiếp cận với các mục tiêu mỗi năm mới, nhưng không có kế hoạch. Trong năm ngày đầu tiên của năm học, cô tìm ra tính tò mò và niềm đam mê của học sinh, nhờ đó, cô có thể tận dụng sự thích thú đó để điều hướng chương trình giảng dạy trong suốt cả năm.

    Trong giai đoạn tiếp theo của tư duy thiết kế, bạn xác định (Define) vấn đề. Ở trường học, đây có thể là một đơn vị học trình, một tập hợp các kỹ năng, hoặc là một thách thức cộng đồng lớn hơn. Gần đây, tôi sử dụng thiết kế suy nghĩ để chuẩn bị một hội thảo phát triển năng lực chuyên môn. Khi tôi đọc qua các bài viết thảo luận trực tuyến của học viên, tôi nhận ra vấn đề: họ đã không bao giờ là các sinh viên với công nghệ. Họ không biết cảm giác học ở một lớp học phi truyền thống là như thế nào, và vì vậy họ phải vật lộn để tạo ra một lớp học như vậy cho sinh viên của mình. Bây giờ tôi đã xác định được vấn đề mà hội thảo này cần giải quyết.

    Với các vấn đề đã rõ ràng, bắt đầu tạo ra những ý tưởng. Trong giai đoạn tưởng tượng (Ideate), mục tiêu là khá rộng bởi vì câu trả lời có thể không rõ ràng. Nhiều ý tưởng  sau đó biến thành nguyên mẫu (Prototype), phiên bản đơn giản hóa của các giải pháp tiềm năng. Là giáo viên, hãy xem xét sức mạnh của các mục tiêu học tập hoặc kế hoạch giảng dạy mẫu với các đồng nghiệp. Điều này mang lại cho bạn sự tự do để thí nghiệm mà không lo ngại về thất bại với sinh viên. Khi đã sẵn sàng, thực hiện (Test) các bài học, đơn vị, hoạt động cuối cùng, hoặc thậm chí là một trải nghiệm PBL đầy đủ.

    Christine Boyer, một giáo viên lớp năm tại Trường Heathcote tại New York, sử dụng tư duy thiết kế để chuyển đổi bài học về tên lửa:

    Trước khi sử dụng tư duy thiết kế, tôi thực sự đã nói với các học sinh về những gì họ sẽ xây dựng, và đó là một loại dự án rất thiếu tính sáng tạo. Tư duy thiết kế thay đổi không chỉ dự án này, mà còn thay đổi cách tiếp cận trong giảng dạy của tôi.

    Christine đã làm việc thông qua các quá trình tư duy thiết kế để kết nối tốt hơn với học sinh, xác định các vấn đề trong chương trình giảng dạy của mình, kiểm tra các giải pháp tiềm năng với đồng nghiệp, và sau đó tạo ra các kế hoạch chương trình giảng dạy mới. Cuối cùng, cô chuyển thói quen từ phổ biến các thủ tục sang thúc đẩy sự đổi mới.

    Tony Wagner, tác giả của Creating Innovators: The Making of Young People Who Will Change The World, viết rằng sinh viên ngày nay tồn tại trong một “nền kinh tế đổi mới.” Họ không chỉ phải trở thành những người giải quyết vấn đề, mà còn tìm kiếm vấn đề – những người có thể tìm kiếm các giải pháp trong những bối cảnh chưa bao giờ tồn tại trước đó. Là nhà giáo dục, chúng ta phải đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn để khắc phục các yêu cầu của chúng ta ngày nay với các yêu cầu của sinh viên ngày mai. PBL và tư duy thiết kế có thể cung cấp hai cách để “giàn giáo” suy nghĩ của chính chúng ta và hướng dẫn như chúng ta đang tiến tới đổi mới lớp học và trường học.

    BETH HOLLAND

    Nguồn: http://www.edutopia.org

    Hằng Lê Thanh dịch

    NO COMMENTS