Các tiêu chí đánh giá năng lực giảng viên nghề theo dự án POHE

    0
    1456

    Profession-Oriented Higher Education (POHE) is to train teaching staff with professional activities (combining knowledge – skills and professional attitude) to meet the needs of the job. The highlight of the training program is POHE teaching and learning must be linked to the labor market and students’ capacity is the focus of the training process.

    The training program requires faculty POHE must meet professional standards.
    Standards for POHE teaching staff include professional capabilities, learning ability, capacity development, relations with the professional world and applied research.

    teaching standards

    Đào tạo đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) là đào tạo nhân lực có năng lực (1) hoạt động nghề nghiệp (kết hợp kiến thức – kỹ năng – thái độ nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu của thế giới nghề nghiệp. Điểm nổi bật trong các chương trình đào tạo POHE là giảng dạy và học tập phải gắn với thị trường lao động, năng lực nghề nghiệp của sinh viên là trọng tâm của quá trình đào tạo. Để đạt được điều này vai trò của người giảng viên là vô cùng quan trọng bởi giảng viên phải là người đi đầu trong việc đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy theo phong cách POHE. Chương trình đào tạo POHE yêu cầu giảng viên phải có đủ những phẩm chất nghề nghiệp. Giảng viên POHE không chỉ giữ vai trò là người thầy, là chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn mà còn phải là người cố vấn, người hướng dẫn thực hành cho sinh viên và là đại diện của nhà trường khi làm việc với thế giới nghề nghiệp. Các tiêu chuẩn (2) cho giảng viên POHE như năng lực chuyên môn, năng lực dạy học, năng lực phát triển, năng lực quan hệ với thế giới nghề nghiệp và nghiên cứu ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy cho giảng viên POHE được đề cập chi tiết sau đây.

    Tiêu chuẩn đầu tiên chính là năng lực chuyên môn.

    Các tiêu chí (3) để đạt được tiêu chuẩn này bao gồm: kiến thức chuyên môn, kỹ năng chuyên môn và thái độ, đạo đức nghề nghiệp. Về kiến thức chuyên môn, giảng viên cần đạt trình độ chuẩn đào tạo của giảng viên đại học theo quy định của Luật Giáo dục đại học; bên cạnh đó, có kiến thức chuyên môn sâu rộng, chính xác, khoa học; và giảng viên cần thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn và thông tin, kỹ thuật để nâng cao chất lượng dạy học và nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, kỹ năng chuyên môn là việc giảng viên có thể vận dụng kiến thức chuyên môn vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn nghề nghiệp; thành thạo các kỹ năng của lĩnh vực chuyên môn và thường xuyên cập nhật các kỹ năng nghề nghiệp mới. Giảng viên cần có thái độ tận tâm với nghề nghiệp, có ý thức tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo;

    Cùng với đó là thái độ và hành vi giao tiếp, ứng xử mang tính chất mô phạm, phù hợp với các đối tượng giao tiếp như sinh viên, đồng nghiệp, thế giới nghề nghiệp và các lực lượng xã hội khác. Đáp ứng và tuân thủ tuyệt đối các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực đang giảng dạy. Trong thời buổi hội nhập hiện nay, giảng viên cũng cần có hiểu biết và tôn trọng văn hóa quốc tế; ứng xử phù hợp trong quan hệ với đối tác nước ngoài.

    Tiêu chuẩn thứ hai là năng lực dạy học.

    Đây là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất. Năm tiêu chí được đề ra đối với tiêu chuẩn này là: am hiểu người học và hỗ trợ phát triển năng lực người học; Xây dựng mục tiêu, kế hoạch dạy học, tài liệu dạy học; Sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học; Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên; Xây dựng môi trường học tập. Để am hiểu người học và hỗ trợ phát triển năng lực người học, giảng viên cần: có kiến thức về giáo dục học, đặc biệt là giáo dục học đại học; quan tâm tìm hiểu đặc điểm sinh viên; tư vấn, hướng dẫn sinh viên xác định mục đích học tập; tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các hoạt động phát triển kỹ năng mềm và thái độ nghề nghiệp. Bên cạnh đó tiêu chí sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học, đòi hỏi giảng viên có hiểu biết về các phương pháp dạy học đại học nói chung và phương pháp, kỹ thuật dạy học theo phong cách POHE nói riêng. Đồng thời cần thường xuyên cập nhật và sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để nâng cao hiệu quả dạy học. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên là tiêu chí hết sức cần thiết. Giảng viên cần nắm vững quy chế đào tạo, hiểu biết về các loại hình, phương pháp, kỹ thuật kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên; Thực hiện đánh giá quá trình; Theo dõi, giám sát quá trình học tập của sinh viên trong các hình thức tổ chức dạy học khác nhau; Thiết kế, sử dụng các hình thức kiểm tra – đánh giá theo tiếp cận dựa vào năng lực, đặc biệt chú ý đánh giá kỹ năng, thái độ nghề nghiệp; Hướng dẫn sinh viên thực hiện tự đánh giá trong quá trình học tập. Đối với tiêu chí xây dựng môi trường học tập, việc có khả năng thiết kế, tổ chức, quản lý các hoạt động dạy học trong môi trường học tập thân thiện, cởi mở, khuyến khích tính tích cực, sự sáng tạo và tình thần hợp tác của sinh viên với nhau là hết sức cần thiết.

    Tiêu chuẩn thứ ba là năng lực phát triển và hướng dẫn sử dụng chương trình đào tạo.

    Tiêu chí đầu tiên để đảm bảo cho tiêu chuẩn này chính là phát triển chương trình đào tạo POHE. Giảng viên đòi hỏi cần hiểu biết về quy trình và các phương pháp, kỹ thuật phát triển chương trình đào tạo POHE. Bên cạnh đó giảng viên cũng cần tham gia/tổ chức khảo sát, sử dụng ý kiến các bên có liên quan (người sử dụng lao động, cựu sinh viên, chuyên gia…) để phân tích nhu cầu đào tạo và xác định yêu cầu đào tạo. Tiếp đến là việc xây dựng, điều chỉnh, cập nhật nội dung chương trình đào tạo trên cơ sở Hồ sơ năng lực, Hồ sơ nghề nghiệp; và cuối cùng là thiết kế và sử dụng thành thạo các công cụ đánh giá chương trình đào tạo. Tiêu chí thứ hai: Thực hiện chương trình đào tạo POHE. Giảng viên thực hiện và hướng dẫn triển khai chương trình đào tạo theo đúng quy định và định hướng nghề nghiệp ứng dụng. Ngoài ra, giảng viên cũng cần nghiên cứu, phổ biến, chuyển giao cách tiếp cận POHE cho giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục thuộc các ngành đào tạo khác ở trong và ngoài Trường;

    Tiêu chuẩn thứ tư: Năng lực quan hệ với thế giới nghề nghiệp và năng lực phát triển nghề nghiệp.

    Ở tiêu chuẩn này có hai tiêu chí được đặt ra gồm: năng lực quan hệ với thế giới nghề nghiệp và năng lực phát triển nghề nghiệp. Năng lực quan hệ với thế giới nghề nghiệp đòi hỏi giảng viên có kinh nghiệm làm việc trong thế giới nghề nghiệp hoặc cộng tác với thế giới nghề nghiệp cũng như am hiểu về văn hóa và tổ chức, hoạt động của thế giới nghề nghiệp trong lĩnh vực chuyên môn. Giảng viên có thể nâng cao năng lực quan hệ với thế giới nghề nghiệp bằng cách lập kế hoạch, tìm kiếm, xây dựng các mối quan hệ với thế giới nghề nghiệp trong lĩnh vực ngành nghề chuyên môn. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác giữa trường đại học và thế giới nghề nghiệp, giảng viên cần thường xuyên duy trì mối quan hệ và thông tin liên lạc giữa trường đại học và thế giới nghề nghiệp; thu thập thông tin phản hồi từ thế giới nghề nghiệp; lập kế hoạch, tổ chức thực hiện hoặc tham gia các hoạt động hợp tác giữa trường đại học và thế giới nghề nghiệp; đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ; thực hành, thực tập của sinh viên. Năng lực phát triển nghề nghiệp chính là việc giảng viên cần có khả năng tự đánh giá và lập kế hoạch phát triển nghề nghiệp; Thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới trong lĩnh vực chuyên môn; sử dụng thành thạo ngoại ngữ để đọc hiểu tài liệu nước ngoài; trao đổi chuyên môn và làm việc trực tiếp với các chuyên gia/ học giả nước ngoài trong lĩnh vực chuyên ngành nhằm tìm kiếm các cơ hội hợp tác; duy trì mối quan hệ và thông tin liên lạc với thế giới nghề nghiệp. Bên cạnh đó, giảng viên cần sử dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động phát triển nghề nghiệp: khai thác thông tin và các nguồn tài nguyên học tập, tài liệu nghiên cứu khoa học trên mạng Internet; tìm kiếm cơ hội hợp tác; duy trì mối quan hệ và thông tin liên lạc với thế giới nghề nghiệp;

    Tiêu chuẩn năm: Năng lực nghiên cứu khoa học ứng dụng.

    Tiêu chí đầu tiên của tiêu chuẩn này là thực hiện nghiên cứu khoa học ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu. Giảng viên cần  phát hiện các vấn đề nghiên cứu từ thực tiễn thế giới nghề nghiệp. Sau đó, thực hiện các chương trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng, phát triển công nghệ; phục vụ xây dựng chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng dạy học. Giảng viên cũng cần viết bài báo xuất bản trên tạp chí khoa học trong và ngoài nước; viết chuyên đề, báo cáo khoa học, tham luận tại các hội nghị, hội thảo khoa học. Khi diễn ra các seminar, hội thảo chuyên đề trong lĩnh vực chuyên môn, giảng viên đóng vai trò chủ trì hoặc phối hợp tổ chức. Một trong những khía cạnh quan trọng giúp giảng viên thực hiện nghiên cứu khoa học ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu là  nắm vững các quy định về sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; Thực hiện chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ. Tiêu chí thứ hai: Hướng dẫn sinh viên thực hiện nghiên cứu khoa học ứng dụng và thực hiện đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên.

    Giải thích từ ngữ

    • Năng lực: là sự kết hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ để thực hiện một nhiệm vụ nghề nghiệp cụ thể.
    • Tiêu chuẩn: là quy định về những nội dung cơ bản, đặc trưng thuộc mỗi lĩnh vực của chuẩn. Trong văn bản này, tiêu chuẩn là mức độ yêu cầu và điều kiện mà các giảng viên đại học phải đáp ứng để được công nhận đạt chuẩn năng lực giảng viên POHE.
    • Tiêu chí: là quy định về những yêu cầu và điều kiện cần đạt được ở một nội dung cụ thể của tiêu chuẩn

    Lưu Hoa – Sưu tầm

    Nguồn: Dự án phát triển giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng ở Việt Nam giai đoạn 2, Báo cáo Nghiên cứu số 12, Chuẩn năng lực giảng viên giáo dục định hướng nghề nghiệp (2014), tham khảo từ website của POHE http://pohevn.grou.ps

    NO COMMENTS