Thiết kế môi trường học tập e-learning từ góc nhìn sư phạm

    0
    1017

    Biggs (1999) mô tả nhiệm vụ thiết kế sư phạm tốt như một phần đảm bảo rằng hoàn toàn không có sự mâu thuẫn nào giữa chương trình được giảng dạy, phương pháp giảng dạy được sử dụng, môi trường học tập được lựa chọn và quy trình đánh giá được thực hiện. Để đạt được sự thống nhất hoàn chỉnh này, cần xem xét thật cẩn thận những giả định tạo ra tại mỗi giai đoạn và tương thích với chúng. Vì vậy, chúng ta cần bắt đầu một cách cẩn thận bằng việc định nghĩa các mục tiêu học tập dự kiến, sau đó lựa chọn các hoạt động dạy và học tạo cơ hội để sinh viên đạt được mục tiêu học tập đó, và cuối cùng cần thiết kế các nhiệm vụ đánh giá để xác định xem mục tiêu có thực sự đạt được hay không. Quá trình này rất dễ để chỉ ra, nhưng rất khó có thể đạt được bằng cách thức thông thường.

    Có những truyền thống riêng biệt về các học thuyết giáo dục xuất phát từ các quan điểm khác nhau về quá trình học tập tự nhiên. 3 quan điểm dưới đây của Greeno, Collins & Resnick (1996) tạo ra các giả định khác nhau cơ bản về điều gì thực sự quan trong đối với hiểu biết về việc học, nhất là thiết kế môi trường học tập. Đó là:

    Quan điểm duy nghiệm (học tập là hoạt động) nhấn mạnh

    • Các thói quen hoạt động có tổ chức
    • Mục tiêu và phản hồi rõ ràng
    • Lộ trình và thói quen cá nhân – phù hợp với thành tích cá nhân trước đó

    Quan điểm nhận thức (học tập là đạt được sự hiểu biết) nhấn mạnh

    • Môi trường tương tác để xây dựng sự hiểu biết
    • Các hoạt động dạy và học khuyến khích thực nghiệm và khám phá các nguyên tắc tổng quát
    • Hỗ trợ cho phản tỉnh

    Quan điểm bối cảnh (học tập là thực hành xã hội) nhấn mạnh

    • Các môi trường tham gia trong thực hành xã hội của khám phá và học tập
    • Hỗ trợ cho sự phát triển của cá nhân người học như khả năng và sự tự tin
    • Đối thoại tạo điều kiện cho sự phát triển của các mối quan hệ học tập

    SƯ PHẠM TỪ GÓC NHÌN DUY NGHIỆM: THIẾT KẾ HỆ THỐNG GIẢNG DẠY (ISD)

    Hầu hết thuật ngữ e-learning vẫn được dựa trên triết lý giáo dục là thiết kế giảng dạy truyền thống. Cơ sở trí tuệ cho thiết kế hệ thống giảng dạy (ISD) bao gồm các nguyên tắc được chấp nhận rộng rãi với văn hóa đào tạo mang tính tổ chức. Cơ sở này xuất phát từ thuyết hành vi, những tập trung cụ thể vào phân tích nhiệm vụ.

    Robert Gagne (1985) thiết lập các nguyên tắc tâm lý về ISD dựa trên và thực sự phát triển từ phương pháp giảng dạy dựa trên phân tích đệ quy kiến thức và kĩ năng. Nguyên tắc cơ bản là các nhiệm vụ phức tạp được xây dựng từng bước từ các đơn vị kiến thức đơn giản hơn của kiến thức hoặc kĩ năng, cuối cùng kết hợp tất cả để đạt được cấu trúc tổng thể. Gagne cho rằng giảng dạy thành công là dựa vào khối lượng kiến thức mới được thêm vào trong từng giai đoạn. Vì vậy ISD bao gồm các bước cơ bản sau:

    • Phân tích các miền hệ thống của đơn vị kiến thức nhỏ
    • Sắp xếp các đơn vị kiến thức để cấu trúc tổng thể sẽ không được dạy cho đến khi các đơn vị kiến thức thành phần được sinh viên nắm vững
    • Thiết kế phương pháp giảng dạy cho mỗi đơn vị trong chuỗi kiến thức

    ISD bao gồm các hướng dẫn và quy trình cho việc phân bổ các nhiệm vụ phức tạp thành các phân cấp đơn vị nhỏ hơn và mô tả chi tiết về thiết kế chương trình giảng dạy dựa trên các cấp độ này. Nền tảng của công việc này là sử dụng các nguyên tắc phân loại các mức độ khác nhau của mục tiêu học tập. Các mức độ về kĩ năng trí tuệ được chia thành: phân biệt, khái niệm, quy luật và quy luật trình tự cao.

    SƯ PHẠM TỪ GÓC NHÌN NHẬN THỨC: MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP KIẾN TẠO VÀ HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG

    Môi trường học tập kiến tạo

    Thuyết kiến tạo về kiến thức của Piaget (1970) dựa trên giả thiết người học không sao chép hoặc tiếp thu từ thế giới bên ngoài, nhưng phải được cấu thành những khái niệm đó thông qua thực nghiệm cá nhân chủ động và quan sát. Quan điểm kiến tạo về học tập có thể được tổng hợp bởi các khẳng định sau:

    • Người học chủ động xây dựng kiến thức, thông qua đạt được hiểu biết
    • Học tập dựa trên những cái đã biết, hoặc những cái có thể làm được
    • Học tập là tự điều chỉnh
    • Học tập là định hướng mục tiêu
    • Học tập là tích lũy

    Các hoạt động của hiểu biết kiến tạo có hai khía cạnh chính:

    • Tương tác với hệ thống học liệu và khái niệm
    • Tương tác với cái người học thảo luận về phát triển hiểu biết và năng lực

    Các nguyên tắc thiết kế các hoạt động dạy và học kiến tạo:

    • Sở hữu nhiệm vụ
    • Huấn luyện và mô hình hóa các kỹ năng tư duy
    • Tạo bước đệm gợi ý
    • Hướng dẫn khám phá
    • Cơ hội phản tỉnh
    • Các vấn đề có kết cấu không rõ ràng

    Sự tăng cường tập trung vào thiết kế các phương pháp và môi trường lấy học sinh làm trung tâm: nghiên cứu về học tập qua vấn đề, học tập qua dự án, học tập gợi mở cung cấp các nhiệm vụ và môi trường kiến tạo, nhấn mạnh và phản tỉnh và phản hồi. Áp dụng phương pháp lấy người học làm trung tâm thực sự sẽ tập trung vào mỗi học sinh như từng trường hợp cá nhân. Đây luôn luôn là mục tiêu cuối cùng của công nghệ giáo dục: thành tựu của giáo dục cá nhân. Điều này ngụ ý rằng các hoạt động dạy và học nên được thiết kế để phù hợp với từng cá nhân người học.

    Hệ thống hành vi

    Một hướng tư duy mới về sư phạm mới xuất hiện trong thập kỉ trước là thuyết hành vi. Các nhà nghiên cứu bắt đầu xác định cách thuyết hành vi có thể đă vào thiết kế môi trường học tập. Thuyết hành vi không chỉ tập trung vào cá nhân người học, mà tập trung vào hệ thống hành vi, nhiều đơn vị xã hội phân tích hơn. Hệ thống hành vi bao gồm nhóm với kích cỡ bất kì, theo đuổi mục tiêu cụ thể với cách thức có mục đích. Các hệ thống hành vi này có thể được phân tích thành các thành phần bởi Engestrom (1993). Các kết nối cơ sbanr giữa sự tham gia cá nhân và hệ thóng hành vi là mục đích; mối quan hệ này không trực tiếp, nhưng qua trung gian là các công cụ. Người tham gia thường là một phần của cộng đồng. mỗi quan hệ có trung gian là quy tắc cho các tương tác được chấp nhận. Hệ thống hành vi phát triển liên tục, luôn luôn thay đổi thông qua hành động của người tham gia, mục đích và công cụ. Công cụ có thể là cả vật chất (mạng lưới, sách, phần mềm) và nhận thức (khái niệm, ngôn ngữ, trí nhớ). Để minh họa cho các thành phần của lĩnh vực giảng dạy, khung sư phạm là công cụ giúp các nhà giáo dục hướng tiếp cận thiết kế giảng dạy, từ đó hình thành mối tương quan của tư duy (và không tư duy) về việc học. Một hành vi, là các công cụ được sử dụng cho một mục địch trong hệ thống hành vi. Vì vậy, sử dụng một công cụ thiết kế sư phạm tạo ra một khóa học e-learning sẽ tạo thành một hoạt động trong hệ thống hoạt động dạy và học. Các hành động có thể phân hóa thành các hoạt động tự động. Trong trường hợp dạy, ví dụ, có những bước phát triển thực hiện thông qua quy trình khung được lên kế hoạch trước (hành động) và bước thực hiện phản hồi tới sinh viên (hoạt động). Tuy nhiên, 3 mức độ này (hành vi, hành động, hoạt động) là liên tục thay đổi, như hệ thống hành vi phát triển thành một cộng đồng thực hành.

    Thuyết hành vi là khóa cạnh then chốt của thiết kế e-learning: mục tiêu học tập, các hoạt động dạy và học, đánh giá.

    SƯ PHẠM TỪ GÓC NHÌN BỐI CẢNH: CÁC CỘNG ĐỒNG THỰC HÀNH

    Có 3 mức độ về học tập dựa trên bối cảnh. Mức độ đầu tiên là quan điểm văn hóa hay nhân học-xã hội, được giới thiệu bởi Lave và Wenger, nhấn mạnh điều cần thiết trong quá trình học là tham gia vào một cộng đồng lớn hơn. Tầm quan trọng của cộng đồng thực hành là thông qua việc tham gia vào một vài hoạt động, một nhóm người sẽ đến chia sẻ và phát triển các phần thực hành.

    Mức độ thứ 2 là nhóm học tập. Hầu hết việc học tập đều có kết nối với một bối cảnh xã hội – lớp học, nhóm gia sư, nhóm thảo luận, hoặc thậm chí nhóm theo năm. Người học thường có ý thức mạnh mẽ xác định với các nhóm như vậy, và có nhu cầu tham gia như một thành viên chính thức. Các nhóm như vậy có thể có các đặc điểm của một cộng đồng thực hành nhưng ở đây thực hành là tự học chính nó, trong thiết lập giáo dục và đào tạo cụ thể. Hay đúng hơn nó là thực tiễn giáo dục, có thể hoặc không thể tập trung vào học tập.

    Mức độ thứ 3 là các mối quan hệ cá nhân. Hầu hết việc học tập được thúc đẩy bởi 2 mức độ trên là trung gian qua các mối quan hệ giữa các thành viên của các cộng đồng hoặc các nhóm. Việc phân loại xã hội của các cá nhân này sẽ khá nhau theo bối cảnh và tính chất của các cuộc đối thoại cụ thể. Đôi khi thành viên của một nhóm sẽ nội bật nhất, trong tình huống khác tính cách cá nhân của họ sẽ lại quan trọng hơn. Các mối quan hệ như vậy sẽ khác nhau theo từng tính cách của nhóm tham gia, bối cảnh họ thực hiện, và sức mạnh của các mỗi quan hệ (Fowler&Mayes, 2000).

    Hằng Lê Thanh|Đại học FPT (tổng hợp)

    Review of e-learning theories frameworks and models, Mayes, T. and de Freitas, S, CURVE, September 2013

    NO COMMENTS