Thay đổi của hệ thống đại học: Linh động hơn hoặc biến mất hoàn toàn

    0
    637

    Năm 2015 được giới giáo dục dự đoán sẽ là năm của các ý tưởng “Định nghĩa lại đại học”. Một cuộc đối thoại giáo dục toàn cầu diễn ra tại Seoul, Hàn Quốc (từ ngày 26 đến 28-2-2015) đã “bóc dỡ” những yếu tố đang tác động sâu sắc tới sự biến đổi của hệ thống giáo dục đại học này.

    Trên quy mô toàn cầu, hệ thống giáo dục đại học được biết đến như là đỉnh cao của hệ thống cung cấp tri thức, vai trò của hệ thống này là dẫn dắt các nghiên cứu và định hình nhiều xu thế mới trong xã hội.

    Các nhà bác học vĩ đại được giải thưởng Nobel hay Fields thường là giáo sư tại các trường đại học danh tiếng. Chính vì vậy, qua bao thế kỷ, các trường đại học nghiên cứu danh tiếng này được coi là những “tháp ngà” để mọi người ngưỡng mộ. Nhưng hiện nay, câu hỏi hệ thống đại học đi về đâu trong tương lai liên tục được đặt ra!

    Những đổi thay mãnh liệt

    Công nghệ thông tin và sự bùng nổ các phát kiến mới đang khiến xã hội thay đổi nhanh chóng. Hệ thống giáo dục đại học không phải là ngoại lệ, vai trò của nó đang thay đổi mãnh liệt.

    Hàng loạt tuyên bố từ chính các “tháp ngà” cho rằng chưa bao giờ hệ thống giáo dục đại học toàn cầu lại chuyển mình nhanh như hiện nay. GS Delbanco thuộc Trường đại học Columbia với cuốn sách “Đại học đã là gì và sẽ như thế nào?” đã nêu lên những thay đổi căn bản của giáo dục đại học song hành với sự phát triển của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức.

    Mới đây, tại Davos ngày 21-1-2015, hiệu trưởng Trường đại học Harvard Drew Fraust tuyên bố rằng giáo dục đại học đang thay đổi bởi ba lý do chính: sự phát triển của công nghệ, sự thay đổi về khái niệm tri thức và sự định nghĩa lại các giá trị của giáo dục.

    Những trường đại học đầu tiên ra đời là để phục vụ cho thần quyền và giới chức chính trị, tôn giáo. Đó là mô hình trường đại học Trung cổ, được công nhận bởi giáo hoàng mà điển hình là Đại học Bologna (được thành lập năm 1088), Đại học Paris (năm 1150) và Đại học Oxford (năm 1167).

    Khởi thủy, trường đại học chỉ dạy ba mảng chính là ngữ văn, hùng biện và logic học. Cho đến tận thế kỷ 14 cũng chỉ có thêm một số môn như y học, triết học, số học và thiên văn học được đưa vào trường đại học.

    Sang thế kỷ 15, kéo dài đến thế kỷ 17, sự bùng nổ của cuộc cách mạng “khoa học thực chứng” thời kỳ Phục hưng đã làm thay đổi hoàn toàn nhận thức xã hội mà điển hình là đóng góp của Leonardo da Vinci và sau đó là Galileo, Newton, khiến các trường đại học được mở rộng sang các ngành khoa học tự nhiên.

    Thời kỳ này các trường đại học đóng góp một vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu khoa học tự nhiên và hàng loạt phát minh được đưa ra từ các phòng thí nghiệm.

    Đầu thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp một lần nữa đẩy các trường đại học sang một mô hình mới, điển hình là Đại học Humboldt – mô hình đại học nghiên cứu ngày nay (thành lập năm 1810) – nơi đã có tới 29 nhà bác học đoạt giải Nobel giảng dạy và làm việc. Đây là mô hình đại học đóng góp vào những thành công lớn của sự phát triển khoa học công nghệ.

    Các trường danh tiếng nhất trên thế giới hiện nay đang theo mô hình này.

    Nhân tố chính của sự thay đổi?

    Nếu các cuộc cách mạng như Phục hưng, Công nghiệp đã gây dựng, mở rộng và làm biến đổi các mô hình đại học thì cuộc cách mạng công nghệ ngày nay cũng đang làm điều tương tự.

    Chúng ta có thể thấy rõ nét những biến chuyển của giáo dục đại học hiện nay được thể hiện qua các khía cạnh: thay đổi môi trường học tập và nghiên cứu, cạnh tranh giáo dục toàn cầu, vai trò của người dạy và người học.

    Căn bản nhất của sự thay đổi này là môi trường học tập đại học đang thay đổi đáng kể mà đóng góp lớn nhất chính là do cuộc cách mạng công nghệ mang lại.

    Công nghệ là tác nhân chính dẫn dắt sự thay đổi giống như trước đây, khi sự trở lại của các giá trị La Mã – Hi Lạp và cách mạng công nghiệp là tác nhân chính của các cuộc thay đổi giáo dục đại học trong thế kỷ 14 và 19.

    Nếu trước đây, trung tâm của một trường đại học là hệ thống thư viện và kho tư liệu đồ sộ, hình ảnh thư viện sáng đèn từ sáng đến tối là hình ảnh điển hình cho việc học tập bậc đại học và các trường đại học phải mất một hành trình dài và tốn kém mới có được hệ thống tài liệu như vậy, thì ngày nay, một trường đại học bất kỳ cũng có thể có cả triệu đầu tài liệu với thư viện điện tử ngay lập tức với mức đầu tư vừa phải.

    Tại Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đầu tư hệ thống thư viện điện tử với nhiều tài liệu nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành hàng đầu, các sinh viên Đại học FPT có thể truy cập vào kho sách chuyên ngành với khoảng 39.000 đầu sách cập nhật.

    Họ có thể ở bất cứ đâu mà vẫn tra cứu và theo đuổi học tập dễ dàng. Nhưng ngay cả thư viện riêng của trường đại học cũng không còn là nguồn tri thức duy nhất như trước, Internet đã đi một bước rất xa để trở thành kho tư liệu miễn phí lớn nhất thế giới cho việc học hành.

    Sự phát triển công nghệ thông tin và công nghệ giáo dục còn đưa đến những phương thức học tập khác như học tập tích hợp (blended learning) hay các khóa học mở đại chúng (MOOC).

    Điều thú vị là chính các trường hàng đầu như MIT, Harvard, Standford… lại tích cực nhất trong việc đầu tư vào MOOC với sự ra đời của Coursera và edX. Các khóa học này đã làm thay đổi hoàn toàn môi trường học tập.

    Mỗi khóa MOOC có thể có tới 100.000 người tham gia học tập cùng lúc, số sinh viên của riêng một khóa học đã nhiều hơn rất nhiều tổng số sinh viên một trường đại học hiện nay. Từ đó, lần đầu tiên, tỉ lệ giảng viên/sinh viên không còn quá quan trọng và các cơ sở giáo dục có thể nâng cao hiệu suất lao động lên gấp nhiều lần.

    Môi trường nghiên cứu hiện nay cũng bắt đầu thay đổi. Trọng tâm của nghiên cứu đang dịch chuyển dần từ các trường đại học, viện nghiên cứu sang các doanh nghiệp, tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Google, các hãng dược phẩm và kể cả những công ty khởi nghiệp.

    Quỹ cho nghiên cứu của các đơn vị này tăng theo cấp số nhân, trong khi đó đầu tư chính phủ cho nghiên cứu ngày càng thu hẹp. Điều này đã dẫn tới việc nghiên cứu tại các trường đại học bị chiếm lĩnh và trở thành nơi làm thuê cho các doanh nghiệp có tiền đầu tư cho nghiên cứu – phát triển, làm thay đổi cả trọng tâm lẫn bản chất và phương thức của hoạt động nghiên cứu khoa học.

    Tại Việt Nam, các công ty dược phẩm, công nghệ hiện nay cũng đã có các quỹ nghiên cứu khoa học lên tới hàng trăm tỉ đồng và đặt hàng các nghiên cứu viên tại các trường đại học hợp tác.

    Một nền kinh tế xanh

    Rất nhiều đại học nghiên cứu giờ đang được tổ chức như thời cuối thế kỷ 19, với các lĩnh vực, các khoa cung cấp định hướng cho việc giảng dạy, nghiên cứu. Nếu chúng ta đánh giá một số thách thức nghiêm trọng và ảnh hưởng nhất mà nhân loại đang đối mặt, lằn ranh giờ nằm ở việc các loại kiến thức ngày càng linh động hơn hoặc là sẽ biến mất hoàn toàn.Drew Gilpin Faust (hiệu trưởng ĐH Harvard,phát biểu tại Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos, Thụy Sĩ tháng 1-2015)

    Giáo dục ngày nay vì thế đã trở thành một cuộc chơi cạnh tranh toàn cầu, các trường hàng đầu như Harvard, Standford, Oxford… không hề giấu giếm mong muốn tuyển chọn được những sinh viên giỏi nhất trên quy mô toàn thế giới.

    Nhiều quốc gia như Mỹ, Úc, Anh, Singapore, Malaysia… coi giáo dục là một ngành kinh tế xanh, sạch, nhiều tiềm năng. Hàng loạt các trường có uy tín như Đại học Nottingham, Liverpool, RMIT đã ra nước ngoài mở cơ sở đào tạo, đặc biệt tại các quốc gia như Trung Quốc, UAE, Singapore, Malaysia và cả Việt Nam.

    Nhiều trường đại học có tới cả chục khu học xá khác nhau để tăng sự hiện diện, mở rộng tầm ảnh hưởng. Ngay sau đó là sự hình thành của một loại hình mới cạnh tranh với hệ thống cũ như liên minh các trường hay một dạng được tổ chức như tập đoàn toàn cầu, ví dụ như hệ thống đại học của Laureate Education (USA) hay Limkokwing (Malaysia).

    Hệ thống lớn nhất của Laureate Education hiện đã có mặt tại 21 quốc gia với 37 cơ sở đào tạo. Tư duy không chỉ một cơ sở mà cần mở rộng trong phạm vi quốc gia và thậm chí là toàn cầu đang phát triển dần lên.

    Điều sau cùng, quan hệ giữa người dạy và người học cũng thay đổi một cách cơ bản. Kiến thức ngày nay không còn là độc quyền của người thầy, bởi sinh viên có thể tự kiểm chứng tất cả những điều mình học gần như ngay lập tức. Vai trò người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức sang người hướng dẫn và động viên để người học có thể xây dựng kỹ năng và kiến thức cho riêng mình.

    Sự phát triển nhanh chóng của tri thức mới cũng khiến việc học tập trở nên học tập suốt đời để luôn cập nhật được những kiến thức mới nhất và nhấn mạnh yếu tố sáng tạo. Sinh viên ngày nay được khuyến khích tự trải nghiệm, mở rộng ra bên ngoài thay vì chỉ tập trung học tập trong trường như trước đây.

    Và như thế, quá trình biến đổi của hệ thống đại học đã bắt đầu và sẽ phát triển theo những dạng thức khác mang đậm tính đại chúng, toàn cầu và công nghệ.

    Đó là một quá trình “tiến hóa” mà trong đó, bên cạnh các mảng truyền thống, hệ thống đại học sẽ được bổ sung rất nhanh những phương thức mới, những xu thế mới. Câu hỏi còn lại là: quá trình tiến hóa này sẽ đi đến đâu và trường nào sẽ bị bỏ rơi hoặc bị đào thải?

    Nguồn: EDUCASE

    Tái định hình một quan niệm mới về trường đại học

    Nếu mô hình trường đại học nghiên cứu kiểu Humboldt đã và vẫn đang được coi là hình mẫu lý tưởng của khái niệm “đại học”: nơi đào tạo giới tinh hoa nhằm lãnh đạo xã hội, nơi sáng tạo tri thức mới và đào tạo các nhà khoa học, thì ngày nay trường đại học đã trở nên một thực thể đa dạng hơn rất nhiều trên mọi phương diện.

    Bên cạnh những “tháp ngà” truyền thống vẫn đang tồn tại, nhiều trường đại học ngày nay đã thay đổi về mục tiêu và phương thức hoạt động.

    Nó không chỉ nhằm vào một thiểu số tinh hoa như trước mà nhằm vào huấn luyện kỹ năng cho số đông. Nó không còn giới hạn trong một khuôn viên, một quốc gia mà vươn ra toàn cầu. Nó không chỉ có lớp học, giảng đường, thư viện mà có webinar, có học tập trực tuyến.

    Nó không còn được nhà nước bao cấp như trước đây mà ngày càng tiến về phía thị trường, ngày càng thể hiện rõ nét tính chất dịch vụ: trong hai vế hàng hóa công và lợi ích tư thì ý nghĩa lợi ích tư của giáo dục đại học đang ngày càng chiếm ưu thế.

    Vì lẽ đó, khái niệm giáo dục đại học vì lợi nhuận hầu như không tồn tại trong cả ngàn năm lịch sử phát triển giáo dục đại học ở phương Tây, gần đây bắt đầu được chấp nhận rộng rãi, đặc biệt là ở Đông Á. Và điều quan trọng nhất: trường đại học không còn là nguồn độc nhất hay chủ yếu tạo ra tri thức và truyền đạt tri thức như trước nữa.

    Vì vậy, quan niệm về trường đại học cũng cần thay đổi, nhưng không có nghĩa là phủ nhận khái niệm đại học như được hiểu trước đây, mà là thừa nhận sự phát triển những hình thái đa dạng của đại học.

    Một mặt chúng ta không bó hẹp quan niệm của mình trong những hình thức của trường đại học truyền thống, mặt khác cần bảo toàn những giá trị cốt lõi của trường đại học trong những hình thái đa dạng của nó ngày nay.

    Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà làm chính sách: một quan niệm chấp nhận sự đa dạng như vậy sẽ là tiền đề để tái cấu trúc hệ thống như một hệ sinh thái bao gồm nhiều loại trường khác nhau với những sứ mạng khác nhau, bổ sung cho nhau.

    Nó cũng rất quan trọng đối với các nhà lãnh đạo của từng trường đại học: nhận thức về những biến đổi của bối cảnh sẽ thúc đẩy những chiến lược đáp ứng phù hợp của các trường và tăng cường cơ hội sinh tồn của họ.

    Đàm Quang Minh – Phạm Thị Ly – Phạm Hùng Hiệp

    Tài liệu tham khảo

    Barber, M., Donnelly, K., Rizvi, S., & Summers, L. (2013). An avalanche is coming: Higher education and the revolution ahead.

    Drew Gilpin Faust, “Ba lực lượng định hình trường ĐH của tương lai”. Bài phát biểu tại Davos, ngày 21-1-2015. Nguồn: https://agenda.weforum.org/2015/01/three-forces-shaping-the-university-of-the-future/.

    Jamil Salmi, “The evolving relationship between state and quality assurance”. Bài trình bày tại Viện Giáo dục quốc tế Hoa Kỳ, Washington DC, 21-2-2015.

    NO COMMENTS