Thăng trầm Công nghệ giáo dục Hồ Ngọc Đại

    1
    12645

    Ba chữ “Hồ-Ngọc-Đại” không chỉ là một cái tên ước lệ cho những người tâm huyết với sự nghiệp đổi mới giáo dục, mà còn nói lên cả một hành trình không mệt mỏi, một nỗ lực “muốn đập tan ngôi đền giáo dục cổ truyền”[1]của Giáo sư (GS.)- TSKH Hồ Ngọc Đại.

     

    Thưa GS. có thể hiểu CNGD nói chung và CNGD ở Việt Nam là gì?

    Hiện nay chỉ có Việt Nam mới có CNGD. Bản chất của công nghệ là một quá trình được tổ chức và kiểm soát. Bất cứ cái gì đều có quá trình để hình thành, chẳng hạn như thai nhi được hình thành, hay như hình thành cây, quả, hoa, lá. Về mặt tự nhiên, các quá trình này là tối ưu, 9 tháng 10 ngày để sinh ra một con người là quá trình tối ưu, không ai can thiệp vào được, nếu can thiệp vào thì không còn giữ được bản chất tự nhiên. Trẻ em vốn là một thực thể tự nhiên, nhưng rất khác cây, cỏ, hoa, lá vì chúng bị “ép” nhiều thứ quá, tức là làm chệch cái tự nhiên của chúng đi, thì bây giờ phải trả lại tự nhiên cho nó. Bởi vì nhân tạo không bao giờ là tối ưu, trừ khi nó phù hợp với tự nhiên, căn cứ vào quá trình tự nhiên. Cách làm của CNGD là căn cứ vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ.

    Nền tảng lý luận của CNGD là gì, thưa GS.?

    CNGD có ba nền tảng. Nền tảng thứ nhất là Triết học. Nền tảng thứ hai là Tâm lý học. Nền tảng thứ ba là Các khoa học chuyên ngành.

    Lấy ví dụ như thế này, muốn dạy trẻ em nói tiếng Việt thì phải dạy những thành tựu cuối cùng của khoa học về tiếng Việt, hay dạy Toán thì dạy những thành tựu cuối cùng của Toán học. Nhưng mà thành tựu cuối cùng đã trở thành hàn lâm, chứ không phải những thành tựu cuối cùng nhưng còn trôi nổi. Bởi vậy, tính hàn lâm của giáo dục là rất quan trọng. Giáo dục ở Việt Nam hiện nay lạc hậu là vì đang dạy những cái hàn lâm cũ.

    Về mặt Triết học, có thể hiểu đơn giản, những gì mà trẻ em có được là chuyển từ bên ngoài vào. Ví dụ, muốn lớn thì phải ăn, muốn trưởng thành thì phải học, không có gì có sẵn cả. Về mặt Tâm lý học, tức là trên thực tiễn triển khai nó như thế nào.

    Khi nhắc đến CNGD, người ta hay nhắc đến “trách nhiệm xã hội”, có thể hiểu điều này như thế nào?

    Bởi vì giải pháp giáo dục có tác động trực tiếp (các ngành khác tác động gián tiếp) tới toàn bộ xã hội nên mặc dù CNGD hiện mới chỉ dạy trẻ em, nhưng sẽ tác động tới toàn xã hội, vì trẻ em có vai trò trong cả hiện tại và tương lai.

    Xin GS. cho biết, ở Việt Nam, CNGD được áp dụng ở những cấp học nào và với những môn học nào?

    Định hướng CNGD là cho toàn bộ 3 cấp của phổ thông, nhưng ở Tiểu học thì tương đối hoàn thiện, thành một sản phẩm. Các cấp còn lại đang soạn thảo, có khung, có định hướng. Ở Tiểu học thì dùng lý thuyết để dạy kỹ năng, nhưng lên đếnTrung học thì dùng kỹ năng để học lý thuyết. CNGD áp dụng cho các môn Khoa học nói chung (gồm Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội) vì có thể kiểm soát được. Riêng với các bộ môn Nghệ thuật và Đạo đức thì chưa áp dụng.

    CNGD thiết kế bài giảng như thế nào để đạt được hiệu quả tối ưu?

    Quá trình tối ưu được thể hiện ở sản phẩm tối ưu. Có 2 loại: tất yếu và mong muốn. Tất yếu có nghĩa là thiết kế như thế nào thì ra được sản phẩm đúng như thế. Còn mong muốn là đặt ra một mục tiêu có thể không đạt được. Thiết kế củaCNGD cũng vậy,có nội dung yêu cầu tất yếu, có nội dung chỉ đưa ra mong muốn.

    Với thiết kế như vậy, yêu cầu đối với giáo viên của CNGD và vai trò của họ được đặt ra như thế nào?

    Người dạy hiện đại rất khác với người dạy ngày xưa. Người dạy của CNGN được chia làm 03 loại: một người dạy thiết kế công nghệ, một người chuyển giao công nghệ, và một người dạy là thực thi công nghệ. Người thầy trước đây chỉ cần cầm sách giáo khoa (SGK) lên là dạy được. Thậm chí như Khổng Tử không cần đến SGK, nghĩ đến đâu giảng đến đấy. Giống như nền sản xuất ngày xưa, mày mò là chủ yếu.

    Bản thân người thiết kế chương trình, cũng giống như thiết kế trong công nghiệp, phải am hiểu tường tận sản phẩm, quá trình làm ra sản phẩm, như vậy buộc phải có trình độ. Người chuyển giao phải giải thích cho người khác, vì sao thiết kế như thế, giống như trường sư phạm, trường nghề.

    Vai trò của 3 người thầy này quan trọng như nhau, và không được thiếu bất kỳ người nào, có như vậy CNGD mới được triển khai tốt được. Chỉ cần hỏng một khâu là không ra được sản phẩm.

    Theo hình dung của đa số, CNGD yêu cầu học sinh phải thực hành nhiều. Với những cơ sở giáo dục còn thiếu thốn điều kiện cơ sở vật chất, điều này có gây cản trở đến việc triển khai CNGD không?

    Bằng bất cứ giá nào cũng phải thực hành. Thiết kế là chung cho cả các trường thành phố hay nông thôn, miền núi. Vấn đề đặt ra ở đây là thiết kế như thế nào cho phù hợp với đại trà. Giống như việc thiết kế ra điện thoại di động, dùng ở đâu cũng được nếu có phủ sóng.

    Việc triển khai CNGD ở Việt Nam đã có những thuận lợi và khó khăn gì?

    Thuận lợi là đạt được hiệu quả, nhân dân nhìn thấy, trẻ em và phụ huynh chấp nhận. Căn cứ theo bộ tiêu chí với chương trình cũ thì CNGD cho ra sản phẩm hơn hẳn.

    Xin GS. cho biết, vai trò của các trường Thực nghiệm trong việc triển khai CNGD là gì?

    Chương trình được triển khai ở Trung ương, rồi về dạy ở Thực nghiệm, để thêm một lần nữa kiểm nghiệm trước khi đưa vào đại trà, để dân nghe thấy, trông thấy và tin tưởng. Hơn nữa, đưa về trường Thực nghiệm thì kiểm tra được chặt chẽ hơn, sản phẩm an toàn hơn, sức thuyết phục tốt hơn.

    Giáo viên được tập huấn trước khi triển khai. So với trước đây thì trình độ tiếp nhận của giáo viên khá hơn trước nhiều.

    Trình độ GV cao hơn so với cách đây 30 năm, vậy việc triển khai CNGD có khác nhiều không?

    Về lý thuyết CNGD đã hoàn thiện, trở thành kinh điển, công nghệ cũng xong. Việc triển khai dễ dàng hơn nhiều. Trẻ em hiện đại tiếp thu rất nhanh.

    GS. có thể đưa ra một số bài học triển khai CNGD là gì?

    Trước hết thiết kế phải tốt, sau đến tập huấn giáo viên cũng phải tốt.

    CNGD đóng vai trò gì trong sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam?

    Vai trò đổi mới là chắc chắn, và ngày càng lớn hơn, không thể chống lại được. Hiện nay CNGD được triển khai toàn quốc, có hơn 400,000 học sinh Tiểu học, với môn Tiếng Việt.

    Xin cảm ơn GS. về cuộc trò chuyện này.

     Thăng trầm CNGD Hồ Ngọc Đại

    • Năm 1978, sau khi hoàn thành luận án Tiến sỹ, Hồ Ngọc Đại mở trường Thực nghiệm đầu tiên ở Việt Nam.
    • Đến năm 1985, đã có 43 tỉnh, thành trên cả nước áp dụng mô hình trường Thực nghiệm, mỗi tỉnh có ít nhất một trường hoạt động theo mô hình này, đặc biệt có tỉnh triển khai đến từng huyện như Thái Bình.
    • Năm 2000, trước chủ trương “Một chương trình một bộ sách giáo khoa” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mô hình trường Thực nghiệm dạy theo sách giáo khoa của Hồ Ngọc Đại bị xóa bỏ, chỉ còn rất ít trường nhất quyết xin duy trì và còn giữ lại đến ngày nay như: Trường Phổ thông Thực nghiệm Liễu Giai (Hà Nội); Phổ thông Thực nghiệm Tây Ninh (tỉnh Tây Ninh); Tiểu học Thực nghiệm Huế (Thừa Thiên-Huế); Tiểu học thực nghiệm Đà Lạt (Lâm Đồng); Thực nghiệm Bình Minh (Hải Dương) và một ngôi trường mới mở cùng mô hình là Tiểu học công nghệ giáo dục Hà Nội (Hà Nội).
    • Đến năm 2012, sau gần 40 năm, chương trình sách giáo khoa Công nghệ giáo dục của Hồ Ngọc Đại được hồi sinh bằng quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận, khi bộ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 của ông được đưa vào áp dụng đại trà. Hiện nay, CNGD được triển khai toàn quốc, có hơn 400,000 học sinh.

    Trong một cuộc phỏng vấn với báo chí, GS. Hồ Ngọc Đại đã chia sẻ: “Ban đầu, chúng tôi chỉ nghĩ khoảng 15-20 năm, Công nghệ giáo dục của tôi được chấp nhận, nhưng không ngờ lại kéo dài đến tận ngày hôm nay. Nhưng dù muộn còn hơn không, và thực ra, khoa học thì cũng không bao giờ là muộn cả. Ít nhất, chúng ta đã bắt đầu”. Và hàng ngày, vị GS. già này vẫn làm việc từ 7 giờ sáng đến 17 giờ chiều, vẫn tập thể dục đều đặn để “như một nghĩa vụ” để duy trì sức khỏe mang CNGD về đến các miền quê.

    Những gì GS. Hồ Ngọc Đại đã và đang làm là vô cùng đáng trân trọng. Mặc dù CNGD của ông mới chỉ được áp dụng ở một trong một cấp học, chưa “phủ sóng” toàn quốc, song thiết nghĩ, đây chính là một “cú hích” mà ngành Giáo dục Việt Nam đang cần phải có trong công cuộc “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”[1].

    1] Hồ Ngọc Đại, 2010, Bài học là gì? tr. 13

    [2]Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    Nguyễn Thị Vân| Dự án Công nghệ giáo dục (Thực hiện)

    1 COMMENT

    1. Những người tâm huyết với giáo dục đầu đều bạc trắng. Hết lớp này liệu còn ai như thế không?

    Comments are closed.