Phương pháp Học tập Hợp tác Toàn diện và Xu hướng trong trường học

    0
    2118

    Tiếp theo kỳ I: Vì sao mô hình này hiệu quả?

    Trong thời đại chỉ có những nguồn lực hữu hạn cho giáo dục, chúng ta buộc phải học cách làm tốt nhất có thể trong khả năng của mình. Học tập hợp tác và trường học hợp tác là một phương tiện tốt giúp học sinh, giáo viên và cả những người quản lý cùng nhau tạo nên những tiến bộ đầy ý nghĩa trong công cuộc học tập của tất cả sinh viên.

    Phương pháp học tập hợp tác toàn diện

    Những phương pháp học tập hợp tác được phát triển vào những năm 1970 (như Nhóm học sinh-Phân chia thành công (Student Teams-Achievement Divisions STAD) hay Nhóm-Trò chơi-Giải đấu (Teams-Games-Tournaments), Phương pháp Johnsons (Johnsons’ methods)) tuy áp dụng tốt xuyên suốt các khối lớp và môn học, lại không đặc biệt phù hợp với một môn học hay khối lớp cụ thể nào. Vì thế, những phương pháp này chỉ mang tính hỗ trợ cho phương pháp giảng dạy truyền thống. Từ năm 1980, Đại học Johns Hopkins đã bắt đầu chú ý vào phương pháp học tập hợp tác toàn diện, nhằm thay thế hoàn toàn phương pháp cũ ở tất cả các môn học và khối lớp. Hai dự án chính được nghiên cứu và đã thành công là Team Accelerated Instruction – TAI dành cho môn toán từ lớp 3 đến lớp 6, và Cooperative Integrated Reading and Composition – CIRC dành cho các môn đọc, viết và nghệ thuật ngôn ngữ từ lớp 3 đến lớp 5.

    Hướng dẫn nhóm tăng tốcTeam Accelerated Instruction (TAI)

    Hướng dẫn nhóm tăng tốc (TAI) giống STAD ở điểm xây dựng các nhóm 4 học sinh với những khả năng học tập khác nhau và trao chứng chỉ cho các nhóm xuất sắc. Tuy nhiên, TAI còn kết hợp học tập hợp tác với hướng dẫn cho từng cá nhân. Các học sinh sẽ được phân chia dựa vào một bài kiểm tra, và sau đó thì tự phát triển theo tốc độ riêng. Các học sinh cùng nhóm sẽ kiểm tra kết quả lẫn nhau, và giúp đỡ nhau khi có vấn đề xảy ra. Các em phải tự mình làm bài kiểm tra cuối cùng trong tuần, và lớp trưởng sẽ chấm bài. Học sinh có cơ hội ngang nhau để đạt kết quả tốt, vì mỗi em sẽ có một bài kiểm tra tương ứng với trình độ của mình, ví dụ như những em tiếp thu yếu sẽ làm ba con tính trừ đơn giản, trong khi các em có năng lực tốt hơn phải làm ba con tính trừ dài và phức tạp.Từng tuần, giáo viên tổng hợp điểm của các nhóm, và trao chứng chỉ hay phần thưởng cho những nhóm nào đạt được tiêu chuẩn đặt ra.

    Chính phần tập trung vào cá nhân khiến cho TAI khác với STAD, và phù hợp hơn khi áp dụng phương pháp này vào dạy toán. Vì trong toán học, hầu hết các khái niệm đều dựa trên những tiền đề trước nó. Nếu học sinh không thể cộng trừ, sẽ rất khó để em biết nhân chia. Với phương pháp TAI, học sinh học ở trình độ của mình, nhờ đó chúng có thể bổ sung những phần chưa chắc chắn trước khi bắt tay vào những phần khó hơn.

    Dạy toán cho từng cá nhân trước đó không thành công, chủ yếu vì giáo viên phải dành quá nhiều thời gian cho việc chữa bài và quản lý nguồn tư liệu dạy học, nên thời gian thực sự cho việc giảng dạy là rất ít. Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp TAI, giáo viên sẽ có nhiều thời gian cho việc dạy học hơn do phần kiểm tra lẫn nhau đã được học sinh thực hiện. Thêm vào đó, động lực của học sinh trong nhóm cũng góp phần đem đến hiệu quả rõ ràng của phương pháp này. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng 5 trên 6 học sinh đã tiến bộ vượt bậc trong môn tính toán khi học trong lớp áp dụng phương pháp TAI so với học sinh học trong lớp thông thường. Số điểm chung của cả nhóm 6 học sinh này cũng gấp đôi số điểm của nhóm còn lại.

    Đọc và Viết luận hợp nhất (Cooperative Integrated Reading and Composition – CIRC)

    Phương pháp học nhóm mới nhất dành cho học sinh là một chương trình dạy đọc và viết cho các lớp lớn ở khối tiểu học. Học sinh cũng được chia nhóm như các chương trình truyền thống. Tuy nhiên, điểm khác biệt là các em được chia về những nhóm 2 người từ các nhóm đọc khác nhau. Trong khi giáo viên làm việc với một nhóm, học sinh ở các nhóm khác sẽ làm việc theo cặp theo các hoạt động như đọc cho nhau nghe, dự đoán câu chuyện sẽ xảy ra thế nào, tóm tắt chuyện vv. Trong lớp học nghệ thuật ngôn ngữ, các em sẽ viết nháp rồi chỉnh sửa bài cho nhau, và chuẩn bị cho việc ra mắt cuốn sách của nhóm. Sự tiến bộ của học sinh khi áp dụng phương pháp này cũng đáng ghi nhận: các lớp học theo CIRC có điểm cao hơn từ 30% đến 70% so với các lớp đối chiếu học theo phương pháp truyền thống.

    Một hướng đi mới

    Sự phát triển và thành công của phương pháp TAI và CIRC đã đem đến một hướng đi đầy triển vọng: thành lập một chương trình tiểu học dựa trên nguyên tắc cả học sinh, giáo viên và người quản lý đều hợp tác với nhau nhằm khiến trường học thành một nơi tốt đẹp hơn. Có rất nhiều góc nhìn khác nhau, nhưng tôi (Robert E. Slavin) và các đồng nghiệp tập trung vào các điểm sau khi nói đến trường học hợp tác:

    1. Học tập hợp tác trong lớp học. Rõ ràng rằng một ngôi trường hợp tác phải có những lớp học hợp tác, và mô hình học tập hợp tác phải được áp dụng trong hơn một môn học. Học sinh và giáo viên cần cảm thấy rằng việc học sinh giúp đỡ nhau cùng tiến bộ là một điều cơ bản trong học tập, và việc học của mỗi người là trách nhiệm của nhiều người khác, cũng như sự thành công của mỗi học sinh là thành công chung của tất cả mọi người.
    2. Có sự hợp tác giữa giáo dục đặc biệt và các hoạt động điều chỉnh với chương trình thông thường. Trong trường học hợp tác, việc kết hợp giữa giáo dục đặc biệt và giáo dục thông thường phải là một nhân tố quan trọng. Ngoài ra, các hoạt động điều chỉnh cũng vô cùng cần thiết, vì nếu tất cả các học sinh đều thấy có trách nhiệm với kết quả của người khác thì dễ dẫn đến việc các em bị quá tải.
    3. Các đồng nghiệp hướng dẫn nhau. Trong trường học hợp tác, các giáo viên có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau để cũng học và áp dụng thành công phương pháp giảng dạy, dành thời gian đến lớp của nhau và cùng trao đổi ý kiến.
    4. Cùng lên kế hoạch. Không chỉ dừng lại ở việc dạy học, các giáo viên cần dành thời gian để cùng nhau chuẩn bị mục tiêu và chiến lược giảng dạy, xây dựng các thư viện tư liệu, và quyết định các hoạt động sử dụng trong lớp học.
    5. Xây dựng hội đồng chỉ đạo. Một hội đồng chỉ đạo bao gồm hiệu trưởng, đại diện giáo viên, đại diện phụ huynh, và các đại diện từ những đội ngũ khác (giáo dục đặc biệt, hỗ trợ…) cần được thành lập để quyết định hướng đi của nhà trường, cũng như giám sát và đưa ra điều chỉnh phù hợp trong quá trình hoạt động của nó.
    6. Hợp tác với phụ huynh và xã hội. Trường học hợp tác cần liên kết với phụ huynh và xã hội, để tất cả cùng hiểu rằng sự thành công của trẻ em trong trường học là trách nhiệm của tất cả mọi người.

    tải xuống

    Trường học hợp tác ngày nay

    Theo hiểu biết của tôi, chưa có ngôi trường nào hội tụ đủ tất cả các yếu tố liệt kê ở trên, nhưng đã có một số trường đi tiên phong theo hướng này. Tại quận Bay Shore (New York), giáo viên của 2 trường trung học đang sử dụng phương pháp CIRC trong dạy đọc, viết và nghệ thuật ngôn ngữ, còn phương pháp STAD được dùng trong môn toán. Ở Alexandria, Virginia, Trường MT. Vernon Community đang làm việc với dự án Làm chủ trong học tập thuộc Tổ chức giáo dục quốc gia, nhằm lên kế hoạch xây dựng trường học hợp tác. Nhiều trường trên khắp nước Mỹ đã áp dụng thành công phương pháp TAI giờ tiếp tục chuẩn bị thêm CIRC vào trong các môn đọc và viết, và hướng đến ứng dụng toàn bộ mô hình trường học hợp tác. Không chỉ các trường cấp tiểu học, mà cả các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng đã bắt đầu nghiên cứu theo hướng đi này.

    Trong thời đại chỉ có những nguồn lực hữu hạn cho giáo dục, chúng ta buộc phải học cách làm tốt nhất có thể trong khả năng của mình. Học tập hợp tác và trường học hợp tác là một phương tiện tốt giúp học sinh, giáo viên và cả những người quản lý cùng nhau tạo nên những tiến bộ đầy ý nghĩa trong công cuộc học tập của tất cả các học sinh.

    Trần Thị Phương Huyền | Đại học Ngoại Thương Hà Nội

    (Nguồn: Robert E. Slavin, 1987, Cooperative learning and cooperative school, Educational leadership Journal)

     

    NO COMMENTS