Phong cách giảng dạy của giảng viên và vấn đề quản lý hành vi của sinh viên trong lớp học

    0
    1675

    Quản lý hành vi là yếu tố quan trọng nhất để giúp giảng viên thành công trong lớp học. Tuy nhiên, không như nhiều người lầm tưởng, quản lý hành vi không chỉ là vấn dề kỷ luật, cũng không phải là vấn đề tổ chức hay phương pháp. Quản lý hành vi hiệu quả chỉ đơn giản là quá trình tạo ra một môi trường mà trong đó sinh viên muốn học. Kỹ năng quản lý hành vi của một giảng viên trực tiếp tỉ lệ thuận với mức độ họ sẵn sàng đầu tư công sức để thu hút cũng như duy trì sự chú ý của sinh viên. Kỳ vọng của giảng viên về công tác quản lý hành vi trong lớp học có thể được xác định trên một chuỗi liên tục: độc đoán, cộng tác, dễ dãi.

     Behavior management is the most important factor to help teachers succeed in the classroom. However, many people now misunderstand this matter. Actually, behavior management is neither just a matter of discipline nor a matter of management or methods. Effective behavior management is simply the process of creating an environment in which students want to learn. Behavior management skills of a teacher directly line up with the degree of willingness they are ready to invest to attract and maintain the attention of students. Teacher’s expectations about behavior management in the classroom can be determined on a continuum: authoritarian, collaborative, easy-going.

    Giảng viên độc đoán (authoritarian teacher) là giảng viên kiểm soát mọi thành phần của lớp học và hành vi của sinh viên, không linh hoạt hoặc không tiếp nhận ý kiến của sinh viên. Giảng viên này đặt ra các quy định và kỳ vọng mà sinh viên phải tuân theo. Sinh viên không được phép tranh luận, phá bỏ quy tắc hay đàm phán với giáo viên, mà phải giữ trật tự trừ khi trả lời câu hỏi của giáo viên. Không ai di chuyển xung quanh trừ khi giảng viên cho phép. Sinh viên phải ngồi ở chỗ của mình đúng giờ và ở nguyên đó cho đến khi giảng viên cho nghỉ.

    Giảng viên dễ dãi (permissive teacher) là giảng viên để mặc cho học sịnh hành xử tự do trong lớp học, gây ra một môi trường lớp học hỗn loạn và căng thẳng. Giảng viên này để hoc sinh viên có thể làm bất cứ gì mình muốn. Sinh viên nói chuyện khi giảng viên cố gắng dạy, quấy nhiễu những sinh viên khác, di chuyển quanh lớp tùy thích, làm những việc hoàn toàn không liên quan đến học tập. Giảng viên thường thử những thủ thuật như: đưa ra các câu hỏi liên quan đến kỷ luật mà không có câu trả lời, quát sinh viên, nịnh bợ, van xin, đàm phán, đưa ra những lời đe dọa mà không thể thực hiện được… Không có hành động nào của giảng viên đem lại kết quả tích cực. Sinh viên vẫn đang làm chủ lớp học.

    OLYMPUS DIGITAL CAMERA

    Giảng viên cộng tác (collaborative teacher) là giảng viên thu thập và sử dụng thông tin từ sinh viên để xây dựng các quy tắc và thông lệ trong lớp học, đồng thời thể hiện sự tôn trọng với tất cả sinh viên. Giảng viên này biết dựa vào sự hợp tác giữa giảng viên – sinh viên để phát triển và duy trì trật tự cũng như kỷ luật tốt trong lớp học. Giảng viên tôn trọng sinh viên của mình – kể cả những sinh viên kém nhất – và đối xử các em với sự tôn trọng (nhưng không dễ dãi). Những giảng viên này có một vài quy tắc về hành vi trong lớp học được xây dựng để tạo điều kiện cho giảng viên dạy học và sinh viên học tập. Thông thường, những giảng viên này cố gắng có được ý kiến của sinh viên khi xây dựng các biện pháp, quy tắc và hình thức thưởng phạt trong lớp học. Họ thực thi những quy tắc này một cách công bằng và nhất quán; khi một sinh viên vi phạm nguyên tắc, giảng viên sẽ điều chỉnh hành vi đó phù hợp ngay tức thì. Những giảng viên này không bao giờ châm chọc, hay đưa ra những lời đe dọa nhưng không thực hiện, và không bao giờ làm sinh viên bẽ mặt. Đó là những giảng viên trung thực và đáng tin cậy. Họ biết mình muốn gì, kỳ vọng gì và đạt được điều đó.

    Canter (1985) sử dụng từ quyết đoán để mô tả những giảng viên thành công nhất trong việc quản lý hành vi lớp học. Ông nói rằng giảng viên quyết đoán giữ vững những quan điểm sau về quản lý lớp học

    1. Tôi sẽ không chấp nhận những vấn đề về hành vi trong lớp của mình. Không có lý do nào của các em đủ chính đáng để khiến tôi ngừng giảng dạy. Tôi sẽ không chấp nhận việc các em ngăn tôi giảng dạy vì bất kỳ lý do nào. Các em có thể hành xử đúng cách và các em sẽ hành xử đúng cách trong lớp của tôi.
    2. Tôi sẽ không chấp nhận các em ngăn cản bất cứ ai học tập. Mọi sinh viên trong lớp của tôi đều có cơ hội để học tập – mà không bị quấy rầy.
    3. Không sinh viên nào được tham gia vào những hành vi không có lợi cho bản thân hay những người khác. Các em sẽ không được phép đe dọa, bắt nạt hay tấn công những sinh viên khác.

    Bạn phải đặt ra chương trình kỷ luật riêng sao cho phù hợp với bản thân và sinh viên trong lớp bạn. Tuy nhiên, kế hoạch kỷ luật cũng phải thích hợp với quy định về kỷ luật của trường. Bất kỳ kế hoạch kỷ luật nào mà bạn đặt ra cũng phải bao gồm toàn bộ các quy tắc chung của trường học.

    Không có công thức quản lý lớp học duy nhất nào hiệu quả với tất cả mọi người. Tuy nhiên, giảng viên thành công nhất là những người hợp tác, quyết đoán, tôn trọng và nhất quán, đồng thời là những người có kỳ vọng cao về thành tích của sinh viên. Ở đây, không khẳng định chỉ có một cách tiếp cận đúng đối với quản lý hành vi, còn những cái khác là sai. Có những thời điểm giảng viên sẽ muốn sử dụng phương pháp khác thay cho phương pháp yêu thích của mình. Ví dụ, cách tiếp cận chung là hợp tác, nhưng đôi khi lại muốn độc đoán và lúc khác lại muốn dễ dãi. Hãy sử dụng phương pháp quản lý lớp học hiểu quả nhất với bạn. Tiêu chí duy nhất là bạn có thể dạy và sinh viên có thể học mà không bị quấy rầy.

    Những hoạt động học tập đặc trưng trong lớp học theo phong cách giảng dạy của giảng viên

    • Giảng viên độc đoán
      • Sinh viên nên được xếp chỗ ngồi trong lớp học – thường theo thứ tự bảng chữ cái.
      • Sinh viên phải tuân theo hướng dẫn của giáo viên, cho dù có thích hay không.
      • Sinh viên nên giữ trật tự trong lớp học trừ khi giảng viên gọi lên để trả lời câu hỏi.
      • Giảng viên đề ra các quy tắc lớp học, và sinh viên nên tuần theo.
      • Giảng viên không được thể hiện bất cứ điểm yếu nào để tránh việc hệ thống quản lý hành vi của họ bị sụp đổ.
      • Nếu một sinh viên không nộp bài tập về nhà đúng hạn, giảng viên nên cho điểm không.
      • Mục tiêu của kỷ luật hiệu quả là sự nghe lời.
      • Những sinh viên thật hư cần phải đặt vào đúng chỗ.
      • Sinh viên không có quyền tức giận ở trường học.
      • Giảng viên cần phải giữ kỷ cương chặt chẽ với sinh viên trong lớp học, phá vỡ quy tắc chỉ khuyến khích thêm những vụ vi phạm mà thôi.
      • Giảng viên luôn đúng.
      • Sinh viên không bao giờ tranh luận với giáo viên.
      • Giảng viên nên khiển trách sinh viên nếu thấy hành vi cấu giận, ẫm ĩ, trợn mắt, hay những hành vi phản đối tương tự.
    • Giảng viên cộng tác
      • Việc xếp chỗ ngồi trong lớp học nên được thảo luận giữa sinh viên và giáo viên.
      • Sinh viên nên được trao cơ hội để đưa ra lựa chọn.
      • Sinh viên nên được cho phép nói chuyện với nhau, với điều kiện là thảo luận về một chủ đề đang học.
      • “Sự hỗn loạn có kiểm soát” được chấp nhận trong lớp học.
      • Trong một, hai tuần đầu tiên, giảng viên nên thỏa thuận để xây dựng mối quan hệ và sự tôn trọng lẫn nhau với sinh viên.
      • Giảng viên tự cười bản thân mình trước cả lớp là chuyện bình thường.
      • Khi một sinh viên vi phạm quy tắc, giảng viên cần phạt sinh viên đó một cách thích đáng và ngay lập tức.
      • Giảng viên nên kêu gọi sinh viên nộp bài tập về nhà, kể cả khi đã quá hạn.
      • Mục tiêu của kỷ luật hiệu quả là để sinh viên trở nên có trách nhiệm.
      • Sinh viên nên có tự do để giải tỏa khúc mắc và thể hiện bản thân mình.
      • Giảng viên phải luôn luôn đối xử sinh viên với lòng tự trọng, bất kể hành vi của sinh viên đó như thế nào.
      • Giảng viên nên đưa lên tường lớp học những giới hạn rõ ràng và kỳ vọng về hành vi, đồng thời làm cho chúng có hiệu lực.
      • Để sinh viên thắng trong cuộc tranh luận nếu các em có ý hợp lý là một điều tốt.
    • Giảng viên dễ dãi
      • Cách tốt nhất để một lớp học ngang bướng phải trật tự là quát sinh viên.
      • Nếu sinh viên ngủ gật trong lớp, giảng viên có thể đập cuốn sách xuống bàn để đánh thức sinh viên đó dậy.
      • Giảng viên nên nuôi dưỡng sự sáng tạo và khả năng thể hiện bản thân của sinh viên nhiều nhất có thể.
      • Khi một sinh viên vi phạm quy tắc, giảng viên cần dọa sinh viên bằng một hình phạt.
      • Khi một sinh viên vi phạm quy tắc, giảng viên nên bỏ qua hành vi đó vì giảng viên chẳng thể làm gì được.
      • Giảng viên nên bỏ qua những hành vi tồi tệ của sinh viên vì chẳng thể làm gì được.
      • Sinh viên có thể lờ đi các quy tắc trong lớp học.
      • Luôn có một vài sinh viên với những hành vi mà giảng viên không thể kiểm soát.
      • Giảng viên có thể kỳ vọng rằng sinh viên sẽ biết cư xử trong lớp, xét cho cùng, sinh viên đã được nuôi dạy để tôn trọng người có thẩm quyền, tôn trọng bạn bè và cư xử đúng đắn.
      • Nếu cả lớp quyết định không vâng lời, giảng viên chẳng thể làm gì với tình huống đó.
      • Sinh viên có thể ngắt lời giảng viên và của người khác nếu có ý kiến hợp lý.
      • Có thể thực hiện những quy tắc lớp học trong vài ngày và bỏ qua trong một số ngày khác, xét cho cùng, giảng viên cũng là con người.
      • Sinh viên nên tự xây dựng các quy tắc lớp học, xét cho cùng, đó là lớp của các em.

    Hangltt2 – Tổng hợp

    Nguồn: 

    David Jerner Martin & Kimberly S. Loomis. (2014). Building Teachers: A Constructivist Approach to Introducing Education. 2nd Edition. Cengage Learning.

    Canter, L. (1985). Assertive discipline. Santa Monica, CA: Canter and Associates.

    NO COMMENTS