Một số mô hình học tập tự định hướng

    1
    10328

    Bước vào đại học, sinh viên chuyển sang một giai đoạn hoàn toàn mới: tự
    học tập – tự nghiên cứu. Để làm được điều này, các em cần có năng lực tự
    định hướng việc học. Hầu hết giảng viên đại học đều mặc nhiên coi sinh
    viên của mình đã có sẵn khả năng đó mà không cần hướng dẫn thêm.Tuy
    nhiên trên thực tế, khả năng tự định hướng học tập cần có quá trình rèn
    luyện từ các cấp học phổ thông, trong khi giáo dục của Việt Nam chưa làm
    được điều đó. Vì vậy có một khoảng cách khá lớn giữa kỳ vọng của giảng
    viên và khả năng của sinh viên, gây khó khăn cho việc nâng cao hiệu quả
    học tập của sinh viên. Nội dung bài viết dưới đây đưa ra một số thông tin
    sơ bộ về học tập tự định hướng thông qua các khái niệm, mô hình và gợi ý
    giảng dạy cho giáo viên để trả lời cho các câu hỏi: thế nào là học tập tự định
    hướng? làm sao để sinh viên đạt được kỹ năng này?

    Học tập tự định hướng là gì?

    Theo Knowles[1], học tập tự định hướng là một quá trình cá nhân chủ động (có hoặc không có sự trợ giúp của người khác) phán đoán nhu cầu học tập, thiết lập mục tiêu học tập, xác định các nguồn tư liệu học tập hoặc người hỗ trợ, chọn chiến lược học tập thích hợp và đánh giá được kết quả học tập.

    Hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ [2] chỉ ra rằng định hướng là một phần của siêu nhận thức, còn siêu nhận thức chỉ quá trình chiêm nghiệm (reflection) và định hướng lên suy nghĩ của con người.

    Trong cuốn sách của mình, Cross[3] viết: “70% người lớn học theo kiểu tự định hướng”.

    Theo Chi và các cộng sự (Chi et al., 1989)[4], các sinh viên mới hầu như không lập kế hoạch, lãng phí nhiều thời gian vì không biết bắt đầu việc học từ đâu, dẫn đến thực hiện các bước không hiệu quả.

    Các nghiên cứu của Bielaczyc, Pirolli, Brown (1995)[5] cũng chỉ ra rằng sinh viên được dạy cách giám sát kế hoạch sẽ có kết quả học tập tốt hơn những sinh viên không được hướng dẫn việc này.

    Thực tế giảng dạy cũng cho thấy, nếu sinh viên biết tự định hướng việc học, họ sẽ chủ động tham gia vào bài giảng và các hoạt động, đồng thời nhận được kết quả học tập tốt hơn, cơ hội xin việc cao hơn so với các sinh viên khác.

    Các mô hình học tập tự định hướng

    1. Mô hình của Ambrose và các cộng sự

    Mô hình của Ambrose và các cộng sự (hình 1) đưa ra quy trình tự định hướng gồm 5 bước như sau: Bước 1: Đánh giá nhiệm vụ được giao; Bước 2: Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của bản thân; Bước 3: Lập kế hoạch hành động; Bước 4: Áp dụng các chiến lược và giám sát việc thực hiện; Bước 5: Suy ngẫm, chiêm nghiệm và điều chỉnh khi cần thiết. Các bước này có thể chồng chéo và tương tác lẫn nhau. Một yếu tố cốt lõi bên trong ảnh hưởng đến toàn bộ các bước này là niềm tin của sinh viên về trí thông minh và việc học tập. Ví dụ trí thông minh là cố định hay có thể rèn giũa được, việc học là nhanh hay chậm..)

    24

     

    Mô hình này đề cao yếu tố siêu nhận thức (metacognition) của người học. Theo Ambrose và các cộng sự[6], kỹ năng siêu nhận thức cơ bản cần thiết để trở thành người học tự định hướng là có khả năng đánh giá yêu cầu nhiệm vụ, đánh giá kỹ năng và kiến thức của bản thân, lập kế hoạch, giám sát quá trình và điều chỉnh chiến lược khi cần thiết. Có thể thấy sự tương đồng ở mô hình của Ambrose et al., với chu trình học tập của Kolb[7] (Kolb learning cycle), ở đó người học biết tự kiến tạo kiến thức cho mình thông qua việc làm cụ thể, chiêm nghiệm, đối sánh, thử – sai và điều chỉnh.

     

    1. Mô hình của Geral Grow

    Năm 1991, trong cuốn sách Teaching Learners to Be Self-Directed đã đưa ra lý thuyết học tập tự định hướng gồm 4 giai đoạn: Phụ thuộc, quan tâm, tham gia và tự định hướng (hình 2).

    26

    Hình 2: Mô hình chuyển dịch giai đoạn Grow

    Ngoài sơ đồ trên, Grow còn phân tích vai trò của giáo viên và sinh viên trong học tập tự định hướng như sau:

    • Giai đoạn Phụ thuộc: Giáo viên đóng vai trò chuyên gia, cung cấp toàn bộ thông tin trong bài giảng, huấn luyện và phản hồi tức thời cho sinh viên.
    • Giai đoạn Quan tâm: Giáo viên đóng vai trò là người thúc đẩy: Bài giảng truyền cảm hứng và thảo luận có hướng dẫn.
    • Giai đoạn Tham gia: Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn. Bài giảng trở thành thảo luận có hướng dẫn của giáo viên với vai trò tham gia bình đẳng.
    • Giai đoạn Tự định hướng: Giáo viên là người ủy quyền, sinh viên thực tập, luận văn, làm việc cá nhân…

     

    Grow cho rằng, sinh viên mới vào trường cao đẳng, đại học mới chỉ tham gia vào hai giai đoạn đầu (phụ thuộc quan tâm) của chu trình chuyển dịch từ phương pháp sư phạm (Pedagogy) sang phương pháp giảng dạy người lớn (Andragogy).

    Ưu điểm của mô hình này là chỉ ra được các giai đoạn mà sinh viên thường phải trải qua để trở thành người học biết tự định hướng, song lại ẩn chứa những bất cập. Chúng tôi giới thiệu mô hình này trong bài viết với mục đích đối sánh, cung cấp góc nhìn khác về học tập tự định hướng, mà rất có thể nhiều người trong chúng ta vẫn có chung quan niệm. Bất cập thứ nhất có thể thấy ở mô hình này là Grow coi những sinh viên mới hoàn toàn chưa có khả năng tự định hướng, chưa tham gia vào thảo luận và việc làm cụ thể, tức là không có trải nghiệm. Bất cập thứ 2 của mô hình Grow là không tính đến kỹ năng siêu nhận thức của sinh viên. Có thể nói, nếu theo mô hình này, sinh viên đã bỏ lỡ mất cơ hội thực hành kỹ năng siêu nhận thức ngay từ những ngày đầu bước vào trường cao đẳng, đại học, bỏ qua những bước chiêm nghiệm và điều chỉnh cần thiết cho việc học tập của mình.

    1. Mô hình của Terry Heick

    Terry Heick, Giám đốc của tổ chức Tư duy nhà giáo khá uy tín (Teacher Thought[8] ) đưa ra một mô hình khung (framework) học tập tự định hướng cho sinh viên thế kỷ 21 với 6 giai đoạn gồm: (1) Bắt đầu với kiến thức tự thân; (2) Phân tích ngữ cảnh vấn đề; (3) Kích hoạt kiến thức hiện có; (4) Thiết kế con đường học tập; (5) Làm rõ kiến thức; (6) Áp dụng những gì đã hiểu (xem hình 3).

    27

    Hình 3: Mô hình học tập tự định hướng của sinh viên thế kỷ 21

    Các bước trong mô hình của Heick được coi như những mảng ghép của một mô hình khép kín mà bước đầu tiên (theo như phân tích của tác giả, không thể hiện trong mô hình) là bước sử dụng kiến thức đã có của người học. Mô hình này có nhiều điểm tương đồng với mô hình của Ambrose theo khía cạnh người học tham gia vào những việc làm cụ thể, có chiêm nghiệm và sử dụng kiến thức đã có, có mục tiêu học tập rõ ràng. Tuy nhiên, không đề cập đến việc điều chỉnh (kế hoạch, cách thức học) của người học.

     

     Mô hình của Roger Hiemstra

    Một mô hình khác được đưa ra bởi Hiemstra (1985)[9] gồm 04 giai đoạn (hình 4), và theo phân tích của tác giả:

    • Giai đoạn 1: Đánh giá hiệu quả học tập hiện tại (thông qua phản hồi của giáo viên, rà soát theo cặp, đánh giá đồng đẳng);
    • Giai đoạn 2: Xác định hiệu quả học tập mong muốn (thông qua các hoạt động đánh giá của giáo viên hoặc sinh viên tự đánh giá);
    • Giai đoạn 3: Mong muốn chỉnh sửa hành vi (giai đoạn này cần đến sáng kiến về phong cách học và phân tích cá nhân);

    Giai đoạn 4: Học tập (kỹ năng, thói quen, thái độ) sử dụng các video-tapes, hội thảo, lớp học, sách vở, báo chí, phim ảnh…

    28

     

     

    Hình 4: Mô hình học tập tự định hướng của Hiemstra

    Mô hình của Hiemstra có đề cập đến việc người học tự đánh giá hiệu quả học tập, và ông coi trọng phong cách học tập cá nhân. Mặc dù cũng nhận được nhiều đồng thuận của giới chuyên môn, song cũng có những mặt hạn chế có thể dễ dàng nhận thấy như người học thiếu sự trải nghiệm trong những việc làm cụ thể, dẫn đến thiếu sự chiêm nghiệm so sánh và điều chỉnh cần thiết. Ở 3 giai đoạn đầu, mọi thao tác chỉ ở mức tư duy. Người học chỉ thực sự được tham gia vào quá trình học ở giai đoạn cuối cùng.

    Gợi ý việc làm cho giáo viên

    Có thể nói, mục đích cuối cùng của việc dạy là người học thực sự học tập, có nghĩa là họ biết tự định hướng việc học của mình. Dưới đây là những gợi ý việc làm cho giáo viên để tác động vào việc tự định hướng của người học.

    1. Theo Ambrose và các cộng sự: để giúp sinh viên trở thành người học biết tự định hướng, cần phải có các chiến lược dạy học tác động vào 5 bước của quy trình trở học tập tự định hướng như sau:

    Để giúp sinh viên có thể đánh giá nhiệm vụ được giao: Giáo viên cần thể hiện sự dứt khoát khi đưa yêu cầu rõ ràng cho sinh viên với các nhiệm vụ học tập, những điểm MUỐN và KHÔNG MUỐN sinh viên thực hiện trong các bài tập được giao. Sau đó, giáo viên cần kiểm tra việc sinh viên hiểu nhiệm vụ như thế nào, cần thực hiện những bước gì…Giáo viên đồng thời phải đưa ra những tiêu chí về kết quả công việc

    Các kỹ thuật cần thiết: Cho sinh viên viết lại mục tiêu chính của nhiệm vụ được giao theo ngôn ngữ của bản thân; Đưa ra một danh sách các việc cần làm và các yêu cầu chủ chốt được nhấn mạnh hoặc cung cấp cho sinh viên các rubric mô tả chi tiết yêu cầu và bóc tách đầu việc.

    Để giúp sinh viên tự đánh giá được điểm mạnh và điểm yếu của mình: Giáo viên cần sớm đưa ra những đánh giá về sinh viên bằng cách đưa ra những phản hồi kịp thời (timely feedback) cho các bài kiểm tra ngắn để giúp sinh viên tự nhìn ra điểm mạnh và điểm yếu của mình. Việc này cần làm sớm, từ đầu học kỳ. Bên cạnh đó, cần cho sinh viên nhiều cơ hội để tự đánh giá bản thân mà không cho điểm. Ví dụ các câu hỏi tương tự như các câu hỏi sẽ có trong kỳ thi sắp tới

    Để giúp sinh viên lập kế hoạch phù hợp: Giáo viên nên cho sinh viên thử triển khai một kế hoạch học tập, trong đó có các đầu việc và thời hạn hoàn thành, các giai đoạn cụ thể, yêu cầu sản phẩm cho mỗi giai đoạn, từ đó sinh viên sẽ có được một mẫu kế hoạch và trải qua việc triển khai. Bước tiếp theo, giáo viên cho sinh viên tự lập kế hoạch cho mình với một nhiệm vụ cụ thể. Có thể chia nhỏ nhiệm vụ thành các giai đoạn và yêu cầu sinh viên lập kế hoạch cho các giai đoạn nhỏ này. Giáo viên nên nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của việc LẬP KẾ HOẠCH trong toàn bộ nhiệm vụ học tập được giao. Trong quá trình sinh viên lập kế hoạch, giáo viên cần đưa ra những phản hồi để sinh viên hoàn thiện nhiệm vụ.

    Để giúp sinh viên áp dụng các chiến lược và kiểm soát hiệu quả học tập: Giáo viên nên hướng dẫn sinh viên phương pháp tự tìm tòi và sửa sai (Heuristics) ở mức đơn giản để họ tự xác định hiệu quả hiện tại và phát hiện lỗi sai. Ví dụ, tự hỏi mình các câu hỏi như “giải pháp này đã hiệu quả chưa..”; “Phạm vi của giả định này là gì?”. Bên cạnh việc tự đánh giá, một cách khác giáo viên cho sinh viên đánh giá có hướng dẫn, ví dụ như rà soát lại các công việc mình làm theo tiêu chí của bài tập mà giáo viên đã đưa ra ngay từ ban đầu. Giáo viên yêu cầu sinh viên tự phản tư và chú giải công việc của mình, như một phần bắt buộc trong nhiệm vụ học tập được giao. Việc này giúp sinh viên có ý thức hơn với các chiến lược học tập của mình và có những điều chỉnh hợp lý. Với vấn đề áp dụng chiến lược và kiểm soát hiệu quả học tập, giáo viên có thể sử dụng những phản hồi và rà soát theo cặp. Sinh viên cùng lớp sẽ phân tích công việc và phản hồi lẫn nhau, nhờ đó có thể vừa giúp bạn, vừa tự điều chỉnh cho mình.

    Giúp sinh viên phản tư và đánh giá phương pháp học tập: Cung cấp các hoạt động yêu cầu sinh viên phản tỉnh và phân tích hiệu quả học tập của mình. Ví dụ, sinh viên tự hỏi: Mình đã học được gì từ dự án/nhiệm vụ học tập này? Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần nhắc nhở sinh viên phân tích tính hiệu quả của kỹ năng học tập, bằng cách cung cấp hoạt động “exam wrapper” – Sau bài kiểm tra hoặc kỳ thi, phát cho sinh viên bài handout ngắn, trong đó có các câu hỏi như: trong kỳ thi, sinh viên mắc những lỗi gì, đã ôn bài như thế nào, kỳ thi tiếp theo họ sẽ ôn bài theo cách nào khác…

    Niềm tin về trí thông minh và việc học: Để làm rõ những suy nghĩ của sinh viên về trí thông minh và việc học giáo viên nên dành thời gian để thảo luận với sinh viên về bản chất của các vấn đề này. Khi thảo luận, giáo viên nên nhấn mạnh vào hiệu ứng tích cực của vấn đề thực hành, nỗ lực và điều chỉnh và cho sinh viên hiểu sâu hơn rằng việc học có nhiều cấp độ. Với mục đích thúc đẩy niềm tin của sinh viên, giáo viên cần giúp sinh viên thiết lập các mong muốn thực tế về học tập.

    Tiến sỹ Thomas D. Fisher, trường đại học Kent State (Hoa Kỳ) đưa ra các gợi ý cho giáo viên khi triển khai học tập tự định hướng cho sinh viên như sau[10]:

    1. Giúp sinh viên xác định ra điểm bắt đầu cho việc học tập và thấy rõ các hình thức kiểm tra, báo cáo.
    2. Đàm phán hợp đồng học tập với sinh viên, gồm mục tiêu, chiến lược học tập, các tiêu chuẩn đánh giá.
    3. Giáo viên trở thành người quản lý các kinh nghiệm học tập hơn là người cung cấp thông tin.
    4. Dạy sinh viên các kỹ năng đặt yêu cầu, ra quyết định, phát triển cá nhân và tự đánh giá công việc.
    5. Giúp sinh viên phát triển thái độ tích cực, độc lập trong việc học.
    6. Nhận ra cá tính của và phong cách học tập của sinh viên
    7. Khuyến khích các kỹ năng tư duy phê phán tích cực (trong lớp) như seminar.
    8. Tạo ra môi trường cởi mở và tin tưởng để thúc đẩy hiệu quả học tập.
    9. Giáo viên thường xuyên gặp gỡ nhau và các chuyên gia để được gợi ý về chương trinh học và tiêu chuẩn đánh giá.
    10. Thực hiện nghiên cứu về xu hướng và các mối quan tâm của sinh viên.
    11. Sử dụng nhiều công cụ cần thiết để đánh giá hiệu quả học tập của sinh viên.
    12. Cung cấp nhiều cơ hội cho sinh viên phản tư về việc học của chính họ.
    13. Thúc đẩy các mạng lưới học tập và trao đổi học tập.

    Trong bốn mô hình trên, mặc dù đưa ra các quan điểm khá nhau, nhưng đều có một điểm chung là học tập có định hướng cần được diễn ra trong môi trường có giáo viên hướng dẫn, sinh viên vẫn có quyền tự do và linh hoạt để khám phá và phát triển việc học. Trên thực tế, có không ít tranh cãi liên quan đến vấn đề tự định hướng học tập, thường được nhắc đến với cụm từ “giao quyền làm chủ cho sinh viên” trong các trường học. Một số cho rằng, vai trò của giáo viên ngày nay rất mờ nhạt, số khác ủng hộ quan điểm “không thầy đố mày làm nên”, những tranh luận này hiện vẫn đang diễn ra, chưa có hồi kết…

    Nguyễn Thị Vân | Dự án Công nghệ giáo dục

     [1] Malcolm Shepherd Knowles, 1975, Self-directed Learning: A Guide for Learners and Teachers, Association Press

    [2] National Reasearch Council, 2001, P.78.

    [3] Cross, 1981, Adults as Learners, San Francisco: Jossey-Bass

    [4] Chi et al., 1989, Self – explanations: How students study and use examples in learning to solve problems . Cognitive Science.

    [5] Bielaczyc , Pirolli , Brown , 1995, Training in self – explanation and self – regulation strategies: Investigating the effects of knowledge acquisition activities on problem solving

    [6] Ambrose et al., 2010, How Learning Works, tr 197

    [7] Tham khảo tại đây: http://www.ldu.leeds.ac.uk/ldu/sddu_multimedia/kolb/kolb_flash.htm

    [8] http://www.teachthought.com/

    [9] Roger Hiemstra, 1985, Bridging the theory–practice gap in self‐directed learning

    [10] http://scholar.lib.vt.edu/ejournals/JVTE/v12n1/fisher.html

    1 COMMENT

    1. Có ví dụ thực tế nào của việc triển khai các mô hình này hay không?

    Comments are closed.