Học tập hợp tác và trường học hợp tác

    1
    3476

    Một bài viết cách đây gần 3 thập kỷ, nhưng vẫn còn khá mới mẻ với giáo dục Việt Nam.

    Mô hình học tập hợp tác đã được thử nghiệm thành công tại nhiều ngôi trường thành phố, nông thôn hay ngoại ô ở Mỹ, Canada, Israel, Tây Đức và Nigeria, ở tất cả các cấp lớp từ lớp 2 đến lớp 12, và trong tất cả các môn học như toán, nghệ thuật ngôn ngữ, viết, đọc, nghiên cứu xã hội, và khoa học. Từ các môn học khó như đọc hiểu, giải quyết các vấn đề toán học, cho đến những môn cơ bản như phát âm, phương pháp Học tập hợp tác đều cho thấy hiệu quả tích cực.

    Kỳ I: Vì sao mô hình này hiệu quả?

    Các nhà giáo và nhà quản lý giáo dục đã phát hiện ra một nguồn lực quan trọng mà chưa được tận dụng hết trong việc tạo nên thành tích của người học, đó chính là bản thân người học. Đã có nhiều bằng chứng quan trọng cho thấy học sinh làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ có thể lĩnh hội kiến thức giáo viên đưa ra nhanh hơn so với việc học sinh đó tự mình làm việc độc lập. Gần đây, một nhóm nhỏ các trường tiểu học và trung học cơ sở đã bắt đầu ứng dụng những hoạt động hợp tác trong nhà trường cũng như trong các lớp học, bao gồm cả các hoạt động cho giáo viên như: cùng nhau lên kế hoạch, hướng dẫn, và dạy theo nhóm. Phần đông trong các trường này đang hướng tới việc thiết lập những nguyên tắc hợp tác, với mục tiêu xa hơn là thổi làn gió mới vào hệ thống trường học.

    Bài viết này nhằm giới thiệu những nghiên cứu về phương pháp học tập hợp tác, và đưa ra viễn cảnh tiếp theo trong sự phát triển của học tập hợp tác: hệ thống trường học hợp tác.

    Thế nào là học tập hợp tác và vì sao mô hình này hiệu quả?

    Học tập hợp tác là một bộ những phương pháp hướng dẫn, theo đó học sinh với những năng lực học tập khác nhau làm việc theo các nhóm nhỏ. Trong nhóm thường có 4 thành viên – một học sinh giỏi, hai học sinh – trung bình, và một học sinh tiếp thu chậm. Học sinh trong mỗi nhóm không chỉ học những kiến thức được dạy trên lớp, mà còn có trách nhiệm giúp đỡ các bạn cùng nhóm tiến bộ. Thường sẽ đưa ra mục tiêu của nhóm, và cả nhóm sẽ được thưởng khi đạt được mục tiêu đó. Một ví dụ đơn giản nhất của học tập hợp tác là mô hình Nhóm học sinhPhân chia thành công, STAD (Student Teams-Achievement Division). Trong mô hình này, dù ở bất kì môn học nào, học sinh cũng đều được khuyến khích không chỉ đưa ra kết quả mà còn giải thích những ý tưởng hay kĩ năng để đạt được kết quả đó cho bạn bè cùng hiểu.

    Mặc dù những thay đổi trong việc tổ chức lớp học còn khiêm tốn, nhưng hiệu quả của học tập hợp tác đối với học sinh là rất đáng kể. Bởi lẽ, thường sự thành công trong học tập của một học sinh sẽ khiến các học sinh khác khó đạt được kết quả cao (có thể do làm tăng kì vọng của giáo viên), hoặc khiến học sinh đó bị gán biệt danh “mọt sách” hay “học sinh cưng của cô giáo”, nên các học sinh giỏi sẽ cố gắng trở nên “bình thường”, và vì thế kìm hãm khả năng của những học sinh này. Ngược lại, khi các học sinh cùng nhau làm việc vì một mục đích chung thì kết quả có được là nhờ công sức của tập thể, nên từng cá nhân sẽ có thể thoải mái thể hiện hết khả năng của mình nhằm giúp nhóm đạt được thành công.

    Không chỉ giúp học sinh thể hiện hết năng lực của mình, học tập hợp tác còn giúp cho lớp học thành công hơn nhờ việc khuyến khích học sinh giúp đỡ lẫn nhau. Những học sinh chậm có thể hiểu lời giảng rõ hơn khi có bạn bè “phiên dịch” hộ “ngôn ngữ của giáo viên” thành “ngôn ngữ của trẻ em”. Ngay cả các học sinh giỏi cũng được lợi từ hoạt động này, vì mỗi lần giảng giải cho bạn hiểu cũng là một lần các em hiểu bài kĩ hơn. Cuối cùng, vì trong học tập hợp tác tất cả sẽ cùng nhau làm việc, nên những học sinh yếu sẽ không có cơ hội để giấu khuyết điểm của mình, mà buộc phải tiến bộ bằng mọi cách.

    1

    Học tập hợp tác hiệu quả trong những điều kiện nào?

    Học tập hợp tác chưa bao giờ khiến kết quả của học sinh kém hơn so với mô hình học tập truyền thống.Tuy nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra rằng phải có hai điều kiện bắt buộc để Học tập hợp tác thực sự thúc đẩy kết quả của học sinh. Thứ nhất, học sinh cần làm việc vì một mục đích chung, như để đạt được chứng chỉ hay sự công nhận nào đó. Thứ hai, việc đạt được thành công ấy phải dựa trên sự nỗ lực của tất cả mọi thành viên trong nhóm.

    Việc tổ chức nhóm nhiều học sinh với những khả năng học tập khác nhau vào là chưa đủ, mỗi học sinh còn cần coi trọng sự thành công của các bạn khác cũng như kết quả của cả nhóm . Nếu học sinh quan tâm đến sự thành công của nhóm, tự học sinh sẽ ý thức việc nhờ bạn giúp đỡ mình hay mình giúp đỡ bạn là cần thiết. Nếu không vì mục tiêu chung của nhóm, học sinh sẽ thấy xấu hổ khi không hiểu và cần phải hỏi bạn bè.

    Tuy vậy, mục tiêu nhóm vẫn sẽ không hiệu quả nếu thiếu đi sự đóng góp của tất cả mọi thành viên trong nhóm. Bởi nếu chỉ quan tâm đến kết quả của một hoạt động cụ thể, thì sẽ tốt hơn nếu để một hoặc hai học sinh xuất sắc nhất làm việc. Những học sinh khác kém hơn sẽ không quan tâm hoặc bị đẩy ra để khỏi “làm phiền”.

    Mô hình học tập hợp tác đã được thử nghiệm thành công tại nhiều ngôi trường thành phố, nông thôn hay ngoại ô ở Mỹ, Canada, Israel, Tây Đức và Nigeria, ở tất cả các cấp lớp từ lớp 2 đến lớp 12, và trong tất cả các môn học như toán, nghệ thuật ngôn ngữ, viết, đọc, nghiên cứu xã hội, và khoa học. Từ các môn học khó như đọc hiểu, giải quyết các vấn đề toán học, cho đến những môn cơ bản như phát âm, phương pháp Học tập hợp tác đều cho thấy hiệu quả tích cực. Tóm lại, những bước tiến đạt được là như nhau đối với học sinh tiếp thu tốt, trung bình hay yếu, đối với học sinh nam và nữ, hay học sinh đến từ những đất nước và vùng miền khác nhau.

    Còn tiếp: Kỳ II-Phương pháp Học tập hợp tác toàn diện và xu hướng trong trường học.

    Trần Thị Phương Huyền | Đại học Ngoại Thương Hà Nội

    (Nguồn: Robert E. Slavin, 1987, Cooperative learning and cooperative school, Educational leadership Journal)

    1 COMMENT

    Comments are closed.