Duy trì động lực học tập cho sinh viên: phần thưởng và cơ chế của não bộ

    0
    4050

    Sinh viên là ai? Trong ngày đầu tiên gặp một sinh viên, giảng viên thường muốn có một câu trả lời thuyết phục cho câu hỏi: Sinh viên có động lực thực sự hay không? Và, nếu sinh viên không có động lực, hướng tiếp cận nào nên được tiếp cận để thay đổi ?

    Các nhà nghiên cứu thường xem động lực như “kích thích (arousal)” và “xung năng (drive)”. Kích thích là định hướng hướng đến mục tiêu, xung năng là đủ quan tâm để làm một việc nào đó để đạt được mục tiêu. Một cách hiểu khác về động lực là sự kết hợp giữa sẵn sàng hành động (ý chí) với các hành vi thực tế (sự tham gia có ý nghĩa). Cách hiểu thông thường là những sinh viên khác nhau sẽ chịu mức độ tác động của hai động lực này khác nhau. Nhưng liệu có phải những khám phá mới về não bộ sẽ cho ta biết về động lực của người học? Một người học không có động lực là thế nào? Tại sao một số người học có động lực nội sinh? Và nghiên cứu não bộ nói cho chúng ta biết gì về cách sử dụng phần thưởng?

    Rõ ràng, động lực là một vấn đề đối với nhiều giảng viên. Câu chuyện là như nhau đối với cả giảng viên trung học hay giáo sư đại học khi nhắc đến nó: “Sinh viên ngày nay không có động lực như khi tôi còn đi học.” Đầu tiên, hãy nhớ giảng viên là những người sống sót và tự tạo ra động lực thông qua trường học. Thứ hai, nhiều sinh viên không có động lực cao ở trường học nhưng lại có động lực cao trong cuộc sống. Cuối cùng, chính là ở chỗ có một vài cách giảng viên có thể làm để giảm thiểu các vấn đề của những sinh viên có động lực thấp. Giảng viên có ảnh hưởng nhiều tới ý chí và động cơ của sinh viên hơn là những gì họ có thể nhận ra.

    Các nguồn tước bỏ động lực phổ biến 

    Các nguyên nhân gây giảm động lực của sinh viên hầu như không giới hạn. Chúng khác nhau tùy theo cộng đồng sinh viên, thời gian và thậm chí theo mức thu nhập. Tất cả các nguyên nhân tiềm năng cần được tìm kiếm ở trường và loại bỏ chúng. Thực tế, bạn có thể học được rất nhiều chỉ bằng cách nói chuyện với sinh viên để tìm ra những điều khiến họ còn do dự. Những lý do đó dường như rất khác so với những gì bạn nghĩ. Nếu không có sự chuẩn bị cẩn thận, bạn có thể phải đầu tư nhiều nguồn lực để giải quyết vấn đề lẽ ra không tồn tại.

    Mặc dù các nguyên nhân gây giảm động lực là khác nhau ở mỗi sinh viên, nhưng vẫn có những nguyên nhân khá phổ biến liệt kê dưới đây:

    • Thiếu các mối quan hệ tích cực. Một mối quan hệ tiêu cực với giảng viên hoặc thậm chí thiếu bạn bè tốt có thể là nguyên nhân của giảm động lực.
    • Cảm thấy bất lực trong lớp học. Phổ biến với sinh viên trung học cơ sở và trung học phổ thông hơn là với sinh viên tiểu học.
    • Sự thiếu tôn trọng đối với văn hóa và dân tộc. Mỗi nền văn hóa có ngôn ngữ, nguyên tắc, phong cách học tập, và đạo đức nghề nghiệp khác nhau.
    • Nhận thức về các mối đe dọa. Những mối đe dọa có thể là có thật hoặc tưởng tượng, và có thể xảy ra trong khoảng thời gian di chuyển đến trường, trong hành lang, hoặc trong lớp học.
    • Sự bất thường của não bộ. Chức năng não bất thường có thể dẫn đến chậm phát triển, chứng khó đọc, áp chế xúc cảm, hay thiếu chú ý.
    • Sử dụng ma tuý. Sử dụng cần sa làm giảm động lực mạnh mẽ; sử dụng rượu thường xuyên cũng như thuốc không được kê đơn cũng là nguyên nhân làm giảm động lực.
    • Nhận thức được bài tập trên lớp hoặc các nhiệm vụ không có ý nghĩa. Tại sao phải học tập chăm chỉ khi cảm thấy học tập không có ý nghĩa?

    Các nguyên nhân trên đa dạng và thú vị bởi lý do sau: sự khác biệt ở não bộ thông thường dẫn đến sự khác biệt trong hành vi. Và hãy nhớ rằng nó cũng có thể đi theo hướng ngược lại: sự khác biệt trong hành vi thường dẫn đến sự khác biệt ở não bộ, điều này giải thích tại sao có nhiều cách để thúc đẩy sinh viên. Não bộ được thay đổi tốt hơn bởi bố mẹ tốt, sự huấn luyện, bạn bè tốt, chế độ dinh dưỡng thông minh, thói quen lành mạnh, giảng viên mẫn cán hay thậm chí thuốc được kê đơn để chữa bệnh. Cách tốt nhất và kéo dài nhất để thúc đẩy sinh viên liên quan đến tạo động lực bên trong lâu dài là thông qua bố mẹ tốt và thông qua việc học hiệu quả cung cấp các lựa chọn ý nghĩa và chương trình học thích hợp. Ở đây, tôi muốn tập trung vào hình thức đơn giản nhất của động lực: sử dụng trực tiếp phần thưởng.

    Phần thưởng và não bộ: Tốt hay Xấu?

    Các giảng viên thường sử dụng phần thường như là một chiến lược thúc đẩy. Các phần thưởng dường như vô hại và thường hiệu quả, điều đó dẫn chúng ta đến một câu hỏi quan trọng: có phải các phần thưởng là tốt cho não bộ?

    Về mặt sinh học, bộ não con người được thiết kế để dự đoán, xử lý, thưởng thức và ghi nhớ các phần thưởng. Các quá trình này có giá trị sống sót rất lớn; xem xét các hành vi liên quan, ví dụ, thức ăn, sự an toàn, thu hút bạn đời, và tình dục. Khi chúng ta nghĩ về phần thưởng, chúng ta thường nghĩ về các chức năng tích cực mà chúng thực hiện. Ví dụ, các phần thưởng có thể là:

    • Đem lại niềm vui
    • Tăng tần số các hành vi tìm kiếm có mục đích
    • Duy trì hoạt động học
    • Tăng hoạt động xã hội
    • Tăng cường việc học hiện có
    • Tăng tỉ lệ thành công học kiến thức mới

    Các phản ứng của não bộ đối với phần thưởng là phức tạp bởi vì chúng liên quan đến các nhiệm vụ dự đoán, khám phá, định hướng mục tiêu, kế hoạch, hài lòng, kỳ vọng và ký ức (xem hình dưới đây). Các vùng của não bộ tham gia vào bao gồm vùng dưới đồi (hypothalamus), vỏ não trán ổ mắt (orbitofrontal cortex), vỏ não trán trước (prefrontal cortex), hạch hạnh nhân (amygdala) và các cấu trúc não giữa khác (Schultz, 2000). Hãy nhớ rằng có 1 sự khác nhau lớn giữa cách não người phản ứng lại với phần thưởng so với các loại thành tích khác. Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến não bộ về phần thưởng tập trung vào các nhiệm vụ đơn giản và một số bằng chứng hỗ trợ cho việc sử dụng có mục tiêu của các phần thưởng cho những nhiệm vụ ngắn hạn. Các phần thưởng có thể tạm thời kích thích các phản ứng vật lý đơn giản; tuy nhiên, các hành vi phức tạp hơn thường bị suy giảm, không được giúp đỡ, bởi các phần thưởng (Kohn, 1993). Vì vậy nếu bạn nghĩ trao phần thưởng sẽ giúp phát triển trí tuệ tốt hơn, bạn có thể bị thất vọng.

    1

     

    Hình 1. Cấu trúc sinh học của phần thưởng

    (Đường khoái cảm bao gồm các cấu trúc then chốt sản xuất và phân phối dopamine (chất truyền dẫn thần kinh trong não bao gồm khoái cảm))

    Não bộ tạo phần thưởng cho chính nó. Chúng được gọi là thuốc phiện (opiates), và chúng có thể sản xuất ra loại thuốc phiện mạnh tự nhiên tương tự như morphine, alcohol, nicotine, heroin, và cocaine. Nó có thể không là vấn đề đối với não nếu phần thưởng là rõ ràng – giống như tiền và các vật có giá trị – hoặc liên quan đến nhận thức – như đặc quyền, địa vị, sự công nhận, sự quan tâm, sự an toàn hay danh vọng. Làm việc như một bộ ổn nhiệt hoặc một huấn luyện viên cá nhân, hệ thống khen thưởng của não bộ thường trải qua cảm giác tốt trong cuộc sống hàng ngày, khẳng định rằng não bộ có một xu hướng gắn liền với trải nghiệm các nguyên nhân và kết quả hải lòng. Nhưng phần thưởng không đơn giản như câu hỏi có – không. Nó chỉ ra rằng não bộ có thể có những hệ thống tín hiệu khen thưởng khác nhau (Fiorillo, Tobler, & Schultz, 2003). Một trong những hệ thống bao gồm các hành vi dự đoán phần thưởng và một hệ thống khác cho sửa chữa lỗi sai. Hệ thống thứ nhất tạo ra sự chú tâm (nhiều hơn nếu sự tán thưởng là tùy ý) và hệ thống thứ hai tạo ra học tập tốt hơn.

    Hệ thống dự đoán phần thưởng thực hiện công việc dự đoán khoái cảm sắp tới. Các dự đoán của một kết quả hài lòng là đủ để kích hoạt hệ thống khoái cảm (Tremblay & Schultz, 2000), tạo ra sự bùng nổ dopamine, chất truyền dẫn thần kinh phần thưởng của não bộ. Mặc dù bạn nhận được sự hài lòng từ những hoạt động của phần thưởng, não bộ của bạn thực sự trở nên điên cuồng khi phần thưởng đến như một bất ngờ, gây ra sự giải phóng của dopamine. Với sự hài lòng mới được tìm thấy, sau đó bộ não lưu trữ điều kiện phần thưởng như là một phần của ký ức và dự đoán phần thường có thể xuất hiện trong lần kế tiếp. Nắm bắt được rằng mặc dù người học cải thiện khi họ nhận được phần thưởng đầu tiên, qua thời gian, thành tích của đa số họ sẽ thực sự giảm như khi các hành động của họ được khen thưởng. Mô hình này mình chứng cho nghiên cứu về dopamine được kích hoạt bởi dự đoán khoái cảm nhiều như bởi sự hài lòng của chính nó. (Berridge & Robinson, 2002).

    Một vấn đề khác về mặt sinh học là bộ não làm quen với phần thưởng rất nhanh chóng (Koob & LeMoal, 2001). Hãy nhớ rằng, chúng ra có một bộ não dễ thích ứng và năng động thay đổi tương ứng môi trường, điều này có nghĩa là cái được làm tại một thời điểm có thể không cần kéo dài. Chúng ta có thể nhanh chóng chuyển từ thoả mãn với $1 sang $10 trong cùng một nhiệm vụ. Nói một cách khác, phần thường thay đổi não bộ nhanh chóng và những gì làm đã làm tốt trước khi chấm dứt công việc (Koob & LeMoal, 1997). Điều này liên quan đến trường học như thế nào? Ở lớp 1, một sticker vàng có thể là một phần thưởng hoàn hảo. Lớp 3, bọn trẻ muốn bánh cookie và lớp 5, sẽ là một chiếc pizza (lưu ý về sự leo thang giá trị). Ở lớp 8, pizza không còn tốt nữa, và bọn trẻ muốn một chiếc ván trượt, Playstation, Xbox hay Nintendo. Đến lớp 11, con gái muốn đồ trang sức hoặc xe mới. Sticker đã rời khỏi quỹ đạo từ lâu.

    Và cuối cùng, những gì một sinh viên tìm kiếm phần thường có thể là không khen thưởng sinh viên khác. Hầu hết giảng viên học được rằng hai sinh viên khác nhau sẽ phản ứng khác nhau đối với một phần thưởng. Mức độ hài lòng của các sinh viên khác nhau đối với phần thưởng được liên hệ tới sự độc nhất của bộ não, làm cho phần thưởng “không công bằng” ngay từ đầu. Sự nhạy cảm di truyền quan trọng chạy qua hệ thống phần thưởng, có nghĩa là nếu bạn muốn trao thưởng công bằng, tất cả các phần thưởng phải được cá nhân hóa. Tóm lại, phần thưởng không phải là cái sinh viên không thích. Những phát hiện này dẫn chúng ta đến đâu trong quá trình tìm hiểu vai trò của phần thưởng? Có thể kết luận rằng phần thưởng nên được mô tả bằng các cụm từ “tốt hơn” và “xấu hơn” thay vì “tốt” và “xấu”.

    Gợi ý thực tế

    Sau tất cả những điều trên, nếu bạn vẫn muốn sử dụng phần thưởng để tạo động lực trong lớp học, hãy nhớ một số gợi ý sau:

    • Sử dụng phần thưởng một cách sáng suốt. Xem việc sử dụng phần thưởng chỉ cho những cộng đồng đặc biêt, trong thời gian ngắn và có lý do cụ thể. Hãy nhớ, thành tích của nhiều sinh viên sẽ giảm theo thời gian khi sử dụng lặp đi lặp lại các phần thưởng (Berridge & Robinson, 2002).
    • Sử dụng phần thưởng ít giá trị và cụ thể. Sử dụng các sản phẩm ít giá trị kinh tế là cách thức trao thưởng dễ dàng (ví dụ như thẻ, M&Ms, nho khô) và lên kế hoạch ngừng trao thưởng sau vài tuần. Nếu không, sinh viên sẽ quen với việc được trao thưởng và sẽ mất tác dụng. Giáo viên sẽ nhận được nhiều lợi ích từ dự đoán phần thưởng bằng cách nhắc nhở sinh viên cách và khi nào nhận được phần thưởng.
    • Sử dụng phần thưởng trừu tượng. Các hình thức thừa nhận phần thưởng (giấy chứng nhận, thư cảm ơn, lời khen) hoặc lễ tôn vinh không liên quan đến tiền bạc (các trò chơi, hoạt động vui chơi, các đặc quyền) là một cách thức thay thế hiệu quả, đặc biệt khi thực hiện những nhiệm vụ khó. Các phần thưởng có thể được trao trong thời gian ngắn, bởi như bây giờ bạn đã biết, trong một thời gian dài, chúng có thể gây mất động lực (Kohn, 1993).

    Nếu bạn muốn ngừng sử dụng phần thưởng, hãy nhớ những gợi ý sau:

    • Tránh trở thành “gà tây máu lạnh”. Đừng dừng trao thưởng một cách đột ngột, hãy loại bỏ nó dần dần.
    • Bắt đầu phát triển động lực nội sinh. Đồng ý cho sinh viên ra quyết định, và để sinh viên tự chịu trách nhiệm về kết quả mà mình lựa chọn. Hãy đảm bảo sự thành công luôn được tôn vinh.
    • Đẩy mạnh các phần thưởng trừu tượng. Các loại phần thưởng này bao gồm những lời cảm ơn và sự tán dương sớm (mỉm cười, các chứng chỉ, lời cảm ơn, trò chơi, các hoạt động vui chơi và đặc quyền).

    Có một hướng dẫn hữu ích là các phần thường không phù hợp (hoặc “tồi tệ”) có 2 đặc điểm chính sau: dự đoán được và có giá trị. Hãy nói rằng lớp của bạn sẽ biểu diễn một vở kịch cho trường và phụ huynh mỗi năm 1 lần. Kết thúc vở kịch, các khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Những đứa trẻ đi ra khỏi sân khấu và bạn tự hào thông báo rằng mỗi em đã nhận được một phần của chiếc pizza. Đó có phải là phần thưởng? Không, đó là sự tôn vinh. Nếu bạn nói với học sinh ngay trước khi bắt đầu cuộc biểu diễn “Làm tốt và tất cả các em sẽ nhận được chiếc pizza”, nó lại là một phần thưởng không thích hợp.

    Vấn đề dự đoán là có lý bởi vì nó trở thành một thử thách qua thời gian. Sinh viên thường bắt đầu cảm thấy mất cảm giác khi họ không nhận được phần thưởng. Nghiên cứu cho thấy sự vắng mặt của một phần thưởng đang mong đợi được thường được hiểu như một hình phạt (Schultz, Dayan, & Montague, 2002). Pizza, kẹo, stickers và chứng nhận đều có giá trị. Nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên sẽ muốn chúng mỗi lần thực hiện một công việc được yêu cầu, chúng muốn phần thưởng ngày càng có giá trị, và các phần thường sẽ cung cấp ngày càng ít hoặc không kéo dài sự hài lòng.

    Lê Thị Thanh Hằng| ĐH FPT

    Lược dịch và tổng hợp từ: Jensen, E. (2008). Teaching with the brain in mind

    NO COMMENTS