Cơ chế tạo động lực học tập

    0
    15192

    Tạp chí CNGD – “Động lực” là từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống. Trong học tập, giờ đây nó trở thành một mối quan tâm lớn cho những người làm giáo dục, bởi dù cho giáo viên có dạy tốt đến đâu trong khi người học không có được động lực học tập thì mọi nỗ lực đều trở nên vô nghĩa. Vậy làm thế nào để tạo được động lực cho người học? Theo quan điểm của tác giả bài viết này, nỗ lực nên được bắt đầu từ việc tìm hiểu các cơ chế của động lực, giống như đi từ gốc rễ của vấn đề.

    Động lực là gì?

    Động lực từ lâu được coi là nguyên nhân chính khởi nguồn cho các hành vi mang tính cá nhân. Những nghiên cứu của Tolman (1932) và Lewin (1938) đã mang đến kì vọng về mối quan hệ từ lí thuyết nhận thức đến hành vi. Kể từ đó, những nghiên cứu khoa học đã tập trung về sự phát triển của động lực.

    Chủ đề về động lực là chủ đề thường gây tranh cãi trong giới nghiên cứu, và đến nay, vẫn thiếu một sự đồng thuận về định nghĩa động lực. Định nghĩa được Pinder[1] (1988) tranh luận và đưa ra là định nghĩa được chấp nhận vì phù hợp với những nghiên cứu hiện nay. Pinder giải thích những khó khăn khi nêu định nghĩa động lực, có lẽ bởi vì có quá nhiều “định hướng mang tính triết học về bản chất con người và về những điều có thể biết về con người”. Ông cho rằng động lực là “một tập hợp các năng lượng có nguồn gốc từ cả bên trong lẫn bên ngoài của một cá nhân để bắt đầu một hành vi có liên quan có xác định hình thức, định hướng, cường độ và thời gian”. Có hai điểm đáng chú ý trong định nghĩa mà Pinder đưa ra; thứ nhất, động lực được xác định là một tập hợp các năng lượng, tức là có thể tạo ra hoạt động của con người từ tập hợp năng lượng này. Thứ hai, tập hợp năng lượng này có ý nghĩa, nó có thể tích cực hoặc tiêu cực, để tạo nên hình thức, định hướng, cường độ hành vi của con người, điều này giải thích con người được thúc đẩy để thực hiện điều gì và họ sẽ đạt được thành công như thế nào khi thực hiện theo những điều đó, khi nào họ sẽ dừng lại.

    Mặc dù định nghĩa về động lực vẫn còn những vấn đề tồn tại, nhưng một vài nhà nghiên cứu: Morley, Moore, Hearty và Ginnigle (1998)[2] cũng đồng thuận với quan điểm của Pinder rằng động lực là một tập hợp quá trình khuyến khích, hướng dẫn và duy trì hành vi của con người hướng đến thực hiện một vài mục đích. Do đó, động lực không phải là một trạng thái cố định mà là một trạng thái linh hoạt, là kết quả từ những ảnh hưởng cá nhân và những nhân tố môi trường. Những thay đổi này trong nhân tố cá nhân và xã hội sẽ ảnh hưởng đến mức độ động lực của con người.

    Các lý thuyết về động lực

    1. Các lí thuyết về nội dung của động lực (Content Theories of Motivation)

    Các lí thuyết về nội dung nhấn mạnh nguyên lí cơ bản rằng một cá nhân sẽ muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ, và tin rằng nhu cầu của một người là một nhân tố cơ bản không thể thiếu nhất của động lực. Nhận thức của một người về nhu cầu là quan trọng, nó xác định việc họ cần sử dụng bao nhiêu năng lượng để đạt được nhu cầu cần thiết. Murray (1938) cung cấp một định nghĩa về thuật ngữ này, đó là “một tập hợp trí tuệ, tri giác, nhận thức và hành động trong một cách thức nào đó để chuyển trực tiếp sang một hướng khác biệt với tình huống hiện tại”. Định nghĩa này đã hé mở ánh sáng về bối cảnh của động lực và chỉ ra rằng một nhu cầu có thể được đánh giá một cách trực tiếp, không tập trung, và do đó có thể tìm ra sự tồn tại của động lực bằng cách trực tiếp, như là quan sát hành vi của một cá nhân. Murray cũng bổ sung thêm rằng, một nhu cầu có thể “yếu hoặc mạnh, tức thời hoặc kéo dài” và kết quả thể hiện qua hành vi “có thể thay đổi hoàn cảnh theo cách thức mà kết thức. Có 3 lí thuyết về nội dung của động lực, đó là các lí thuyết của Abraham Maslow về hệ thống cấp độ nhu cầu (Maslow’s need Hierarchy )(1943), thuyết E.R.G của Alderfer và cuối cùng là thuyết của McClelland.

    Lý thuyết về hệ thống cấp độ nhu cầu của Maslow [3]cho rằng, con người có một hệ thống phân cấp nhu cầu theo cấp độ kim tự tháp từ dưới lên trên. Bắt đầu chỉ từ sinh lí, dần dần, theo sự phát triển vòng tròn của xã hội, tài năng của con người sẽ tự được thực hiện. Điểm quan trọng của lí thuyết này là Maslow cảm thấy rằng nếu các nhu cầu ở cấp thấp hơn chưa được đáp ứng, sẽ ngăn chặn con người bước lên bước tiếp theo.

    31

     

    Theo đó, nhu cầu được chia làm hai loại: nhu cầu thiếu hụt (sinh lí và an toàn), nhu cầu tăng trưởng (thuộc về, lòng tự trọng và tự thực hiện). Nếu nhu cầu thiếu hụt không được đáp ứng, con người sẽ cảm thấy không hài lòng và hạn chế sự phát triển của mình.

    Lý thuyết mô hình ERG của Alderfer (1969)[4] xây dựng dựa trên tháp nhu cầu của Maslow nhưng ông chia thành 3 loại: Sự tồn tại (Existence),     Yếu tố liên quan (Relatedness            ) và phát triển (Growth.), trong đó:

    • Sự tồn tại: bao gồm tất cả những vật liệu và ham muốn sinh lí (ví dụ như thực phẩm, nước, không khí, quần áo, an toàn, tình yêu và tình cảm) Điều này tương ứng với hai cấp độ đầu tiên của Maslow
    • Yếu tố liên quan: bao gồm bên trong và bên ngoài xã hội (ví dụ những mối quan hệ với những người quan trọng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp). Điều này tương ứng với cấp độ thứ 3 và thứ 4 của Maslow
    • Tăng trưởng: tương ứng với cấp độ thứ 4 và thứ 5 của Maslow, bao gồm nhu cầu muốn được sáng tạo và hoàn thành những nhiệm vụ có ý nghĩa

    Mặc dù nhu cầu từ người này sang người khác có những ưu tiên khác nhau, nhưng Alberger ưu tiên trong nguyên tắc cụ thể của từng loại, nhu cầu tồn tại là cụ thể nhất và dễ xác minh nhất so với nhu cầu cụ thể về sự tồn tại (phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ giữa hai hay nhiều người). Cuối cùng nhu cầu phát triển thể hiện rõ nhất thông qua các mục tiêu cụ thể, phụ thuộc vào tính cách của từng người.

    Học thuyết ERG khác với lý thuyết của Maslow trên ba phương diện:

    (1) một nhu cầu cấp thấp hơn không nhất thiết phải được làm hài lòng mới phát triển lên mức độ cao hơn có liên quan (ví dụ, một người có thể đáp ứng nhu cầu ở bàn tay, có hoặc không có một nhu cầu trước đó đã được thỏa mãn);

    (2) nếu nhu cầu tương đối quan trọng không được làm hài lòng, mong muốn thỏa mãn một nhu cầu ít quan trọng hơn sẽ tăng lên (tức là, sự thất vọng trong việc đáp ứng nhu cầu cao để có thể dẫn tới đòi hỏi về nhu cầu thấp);

    (3) lý thuyết ERG cung cấp một số hệ thống phân cấp cụ thể nhưng nó cũng cho phép có những thứ tự của các nhu cầu khác nhau cho những người khác nhau.

    Lý thuyết của McClelland[5] cho rằng động lực của một con người xây dựngg dựa trên ba nhu cầu:

    • Động lực thành công (n – ach): động lực thúc đẩy con người tìm kiếm thành công, tìm kiếm thành tích, đạt được những mục tiêu thực tế nhưng đầy thử thách. Những người có động lực thành công cao sẽ có mong muốn tìm kiếm các cơ hội, họ thích làm việc một mình hoặc với những người thành đạt ở mức độ cao.
    • Cơ quan / công suất động cơ (n-pow) : Người được gọi là n-pow có nhu cầu ‘thúc đẩy quyền lực’. Có một nhu cầu mạnh mẽ để dẫn dắt họ áp dụng những ý tưởng. Ngoài ra còn có động lực và nhu cầu ngày càng tăng đối với tình trạng cá nhân và uy tín của cá nhân đó. Nhu cầu của một người quyền lực (n-pow) có thể là một trong hai loại – cá nhân và tổ chức. Những người cần quyền lực cá nhân muốn chỉ đạo người khác, người cần sức mạnh thể chế (còn gọi là quyền lực xã hội) muốn tổ chức, sắp xếp những nỗ lực của người khác để tiếp tục thực hiện các mục tiêu của tổ chức.
    • Động lực liên kết (n-affil): Người được gọi là n-affil có nhu cầu ‘thúc đẩy liên kết’, có một nhu cầu về các mối quan hệ thân thiện và thúc đẩy hướng tới tương tác với người khác. Họ cần những mối quan hệ hài hòa với những người khác và cần phải cảm thấy sự chấp nhận của người khác.

    McClelland nói rằng hầu hết mọi người sở hữu và biểu lộ một sự kết hợp của những đặc điểm này. Một số người biểu hiện một xu hướng mạnh mẽ đến nhu cầu động lực đặc biệt. Lý thuyết McClelland cũng cho thấy sự hình thành nhu cầu của một người; chương trình đào tạo có thể được sử dụng để thay đổi nhu cầu của một người.

    1. Các lí thuyết về quy trình của động lực (Process Theories of Motivation)

    Lí thuyết kì vọng (expectancy theory) của Vroom

    Một trong những lí thuyết khởi đầu về động lực mang sức ảnh hưởng đó là lí thuyết kì vọng (expectancy theory) của Vroom (1964) cung cấp một nền tảng lí thuyết để giải thích những ảnh hưởng cơ bản đến động lực hành vi của con người.

    Lí thuyết kì vọng[6] quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề nhận thức và mối quan hệ giữa nhận thức và động lực. Lí thuyết kì vọng cho rằng động lực được xây dựng dựa trên sự tin tưởng của con người về mối quan hệ giữa những nỗ lực họ đưa ra tại nơi làm việc, hiệu suất làm việc, từ đó dẫn đến nỗ lực và những phần thưởng họ nhận được từ sự nỗ lực và hiệu suất ấy. Lí thuyết kì vọng được Vroom xây dựng dựa trên 4 giả định: giả định thứ nhất là về những người tham gia kì vọng về nhu cầu, động lực và những kinh nghiệm từ trước đó; giả định thứ hai là hành vi của một cá nhân được coi là kết quả của sự lựa chọn có ý thức; giả định thứ ba là con người muốn làm những điều khác nhau từ các tổ chức; giả thiết thứ tư là con người sẽ tối ưu hóa kết quả cho cá nhân họ. Lí thuyết kì vọng cho rằng một người sẽ thúc đẩy được đến mức độ mà người đó tin rằng (a) những nỗ lực sẽ dẫn đến hiệu suất có thể chấp nhận được (kì vọng) (b) hiệu suất sẽ được tặng thưởng (công cụ hữu ích) và (c) giá trị của phần thưởng là rất tích cực. (Xem hình 1)

    30

     

     

     

    Trong đó:

    Kì vọng (Expectancy) là ước tính xác suất của một người mà nỗ lực trong công việc liên quan sẽ dẫn đến mức độ nhất định về hiệu suất. Kì vọng được xác định dựa trên xác suất và có phạm vi từ 0 đến 1. Nếu một người không có cơ hội nhìn thấy nỗ lực sẽ dẫn đến mức độ hiệu suất mong muốn thì kì vọng bằng 0. Mặt khác, nếu người đó hoàn toàn chắc chắn về mức độ hoàn thành vông việc, kì vọng có giá trị bằng 1

    Phương tiện (Instrumentality): là ước tính của một cá nhân về mức độ thực hiện nhiệm vụ dẫn đến kết quả làm việc khác nhau. Cũng giống như kì vọng, phương tiện nằm trong khoảng từ 0 đến 1.

    Giá trị (Valence) là sự ưu tiên của một người cho một phần thưởng đặc biệt. Không giống như phương tiện và kì vọng, giá trị có thể tích cực hoặc tiêu cực. Vroom cho thấy động lực, kì vọng và phương tiện có liên quan đến nhau theo phương trình:

    Động lực (Motivation) = Kì vọng (Expectancy) x Phương tiện (Instrumentality) x Giá trị (Valence)

    Có rất nhiều lí thuyết về động lực, từ những tranh luận của giới chuyên môn, những quan điểm trái chiều, chúng ta có thể thấy không dễ dàng để nắm bắt được sự phức tạp của động lực thúc đẩy hành vi của con người một cách đơn giản, tự nhiên. Động lực là điều cần thiết cho hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống. Tự nhiên cũng có một động lực nội tại, những gì không có hoặc có trong chính nó. Có lẽ bởi vậy mà thuật ngữ “động lực” thường được sử dụng trong các tài liệu tham khảo để học tập, và làm việc, trong khi hoạt động là một hoạt động bẩm sinh của con người, công việc hay học tập thì không. Bốn lí thuyết trên đây không phải là toàn bộ lí thuyết, quan điểm về động lực nói chung và động lực học tập nói riêng. Nhưng đó có thể được coi là bốn lí thuyết có ảnh hưởng đến những lí thuyết động lực tiếp theo sau này như thuyết của John Stacy Adam, Fredrich Winslow Taylor,… Chúng tôi mong muốn có thể cung cấp một cái nhìn sơ bộ về vấn đề “động lực”. Ở những số tạp chí tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp những tổng hợp nghiên cứu về động lực cũng như các chiến lược để thúc đẩy động lực cho người học.

    Hoàng Giang Quỳnh Anh| Dự án Công nghệ giáo dục

     

     

     

    [1] Pinder, C.C (1998) Work Motivation and Organizational Behaviour. Upper Saddle River, N.J: Prentice – Hall

    [2] Morley, M., Moore, D., Hearty., N., and Gunnigle, P (1998). Principles of Organizational Behaviour: An Irish Text, Dublin: Gill and Macmillan

    [3] Maslow, A.H (1970) Motivation and Personality, New York: Harper Collins Publishers

    [4] Alderfer, C. P (1969) An empirical test of a new theory of human needs. Organizational Behaviour and Human Performance : 142 – 175

    [5] McClelland, D.C (1987) Human Motivation. New York: Cambridge University Press

    [6] Fred C. Lunenburg (2011), Expectancy Theory of Motivation: Motivating by Altering Expectations, Sam Houston State University

    NO COMMENTS