Chu trình học tập Kolb và chu trình học tập tự nhiên

    0
    5987

    1. Ba phần chức năng của não bộ

    Minh họa dưới đây là hình ảnh mặt bên trái của vỏ não (cerebral cortex) trong đó cerebrum là một phần lớn của não đảm nhận chức năng tư duy và học tập, và cortex là lớp mô bao phủ cerebrum, giống như vỏ cây; do đó gọi là cerebral cortex. Vỏ não gồm có 3 phần chức năng chính: cảm giác (sensing), hợp nhất (integrating) và chuyển động (motor).

    5

    – Chức năng cảm giác (sensing) nhận các tín hiệu từ thế giới bên ngoài. Các tín hiệu này thu được bới các cơ quan cảm giác: mắt, tai, da, miệng, và mũi. Sau đó chúng được chuyển đến các vùng chuyên biệt của não bộ ứng với mỗi giác quan. Các tín hiệu này xuất hiện theo các nhóm nhỏ và không có ý nghĩa ở dạng thô. Chúng chỉ là các xung năng lượng điện riêng biệt đến từ các cơ quan cảm giác.

    – Hợp nhất (integrating): Các tín hiệu riêng biệt được gộp lại để bất kỳ cảm giác cũng có thể được nhận ra trong tất cả các tín hiệu này. Các nhóm tín hiệu nhỏ kết hợp thành các mô hình có ý nghĩa lớn hơn như hình ảnh và ngôn ngữ. Trong não người, các ý nghĩa này sau đó được tích hợp theo những cách thức mới, trở thành ý tưởng, tư duy và kế hoạch. Ở mức độ cơ bản nhất, những ý nghĩa được tích hợp này trở thành kế hoạch cho các hành động.

    – Chuyển động (motor) có chức năng thực hiện những kế hoạch và ý tưởng của cơ thể. Các tín hiệu chuyển động được gửi tới các cơ, các cơ này co thắt và thư giãn theo nhiều cách phối hợp để tạo ra các chuyển động phức tạp. Chúng ta nên nhận ra rằng thậm chí nói và viết cũng được áp dụng đúng điều này bởi vì chúng liên quan đến các mô hình phức tạp nhất của co thắt cơ mà cơ thể đang thực hiện.

    2. Tổng quát các kết nối của não bộ

    Việc truyền các tín hiệu từ đầu vào cảm giác (sensory) đến đầu ra chuyển động (motor) trong não là một mô hình chung cho tất cả các hệ thống thần kinh. Lộ trình trực tiếp và đơn giản nhất cho truyền tín hiệu trong não được chỉ ra ở minh họa dưới đây. Thông tin (đầu vào) cảm giác đến từ thế giới bên ngoài hoặc từ chính cơ thể con người. Một khi các tín hiệu này bắt đầu chuyển đến vùng cảm giác của não, đầu tiên chúng tràn tới vùng tích hợp của não gần vùng cảm giác nhất, sau đó qua vùng tích hợp của não gần vùng chuyển động nhất, và cuối cùng đến vùng chuyển động. Một khi hành động bắt đầu, vùng não cảm giác sẽ nhận ra hoạt động đó, vì vậy, thông tin đầu ra của não trở thành thông tin đầu vào cảm giác mới.

    6

    3. Quá trình học tập tự nhiên của não bộ và chu trình học tập Kolb

    Chu trình học tập của Kolb là một phần cơ sở của nghiên cứu quá trình học tập của não bộ. Chu trình được chỉ ra dưới đây là một dạng khá đơn giản. Nó dựa chủ yếu vào các ý tưởng của Dewey và Piaget, cũng như những người khác, và bạn có thể nhận ra một vài thuật ngữ xuất phát từ những cây đại thụ trong nghiên cứu quá trình học tập của con người. Chu trình này được dựa trên đề xuất học tập bắt nguồn từ kinh nghiệm cụ thể – học tập trải nghiệm. Nhưng trải nghiệm không phải là tất cả. Thực chất, nó chỉ là bắt đầu. Học tập phụ thuộc vào trải nghiệm nhưng cũng yêu cầu phản tỉnh, phát triển tư duy trừu tưởng, và đánh giá chủ động.

    7

    Minh họa dưới đây sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa chu trình học tập và các kết nối sinh học tự nhiên. Kinh nghiệm cụ thể (concrete experience) đến thông qua vỏ não cảm giác, quan sát phản tỉnh (reflective observation) liên quan đến vỏ não tích hợp ở phía sau tao nên các khái niệm trừu tượng xuất hiện trong vỏ não tích hợp trước, và kiểm tra tích hợp liên quan đến vỏ não chuyển động. Nói một cách khác, chu trình học tập đến một cách tự nhiên từ cấu trúc của não.

    8

    Bảng phía bên trái dưới đây chỉ ra chức năng của mỗi phần của vỏ não và phía bên phải là các giai đoạn cụ thể của chu trình học tập dường như tương ứng với các khả năng phù hợp với từng vùng của não bộ

    Chức năng của mỗi phần của vỏ não Giai đoạn tương ứng trong Chu trình học tập Kolb
    Phần vỏ não phụ trách giác quan, cảm giác ( Sensory cortex) nhận thông tin từ thế giới bên ngoài thông qua thị giác, thính giác, xúc giác, vị trí, vị giác, khứu giác


    Phần này phù hợp với định nghĩa chung về kinh nghiệm rời rạc (concrete experience), với sự phụ thuộc vào các thông tin vật lý trực tiếp từ thế giới.


    Phần thái dương (back integrative cortex) tham gia vào quá trình hình thành trí nhớ, hiểu ngôn ngữ, phát triển mối quan hệ không gian, và xác định các đối tượng, khuôn mặt, và chuyển động. Tóm lại, nó tích hợp thông tin cảm giác để tạo ra các hình ảnh và ý nghĩa.


    Các chức năng này cũng phù hợp với những gì xảy ra trong quá trình quan sát phản tỉnh, ví dụ, ghi nhớ thông tin có liên quan, mơ mộng và liên tưởng tự do, phát triển những hiểu biết sâu sắc và liên tưởng, lặp lại các kinh nghiệm thần kinh, và phân tích kinh nghiệm.


    Vỏ não (trước) trán (frontal integrative cortex) chịu trách nhiệm cho trí nhớ ngắn hạn, giải quyết vấn đề, ra quyết định, tập hợp các kế hoạch cho hành động, thành phần của ngôn ngữ, phán đoán và đánh giá, chỉ đạo hoạt động của các phần còn lại của não bộ (bao gồm cả nhớ lại), và tổ chức hành động và các hoạt động của toàn bộ cơ thể.


    Điều này rất phù hợp với hệ tư duy trừu tượng, đòi hỏi xử lý các hình ảnh và ngôn ngữ để tạo ra sắp xếp (thần kinh) mới, xây dựng kế hoạch hành động trong tương lai, so sánh và lựa chọn thành phần, gợi lại trực tiếp kinh nghiệm quá khứ, tạo ra các biểu tượng, và thay thế, xử lý các thành phần được lưu giữ trong bộ nhớ ngắn hạn.


    Vỏ não vận động (motor cortex) trực tiếp gây nên tất cả các cơn co thắt cơ bắp phối hợp và tự nguyện của cơ thể, sản xuất chuyển động. Nó thực hiện các kế hoạch và ý tưởng có nguồn gốc từ vỏ não (trước) trán, bao gồm cả việc sản xuất ngôn ngữ thực tế thông qua lời nói và văn bản. Điều này phù hợp với sự cần thiết cho hoạt động để hoàn thành chu trình học tập. Kiểm tra tích cực các tư duy trừu tượng đòi hỏi phải chuyển đổi các ý tưởng thành hành động thể chất, hay các chuyển động của các bộ phận của cơ thể. Điều này bao gồm các hoạt động trí tuệ như viết, hình thành các mối quan hệ, làm thí nghiệm, và nói trong cuộc tranh luận hay đàm thoại.

    Lê Thị Thanh Hằng| ĐH FPT

    lược dịch từ The art of changing the brain

    Bài liên quan:

    Siêu nhận thức: món quà được trao tặng

    Chúng ta hiểu dạy học dựa trên hiểu biết về hoạt động của não bộ như thế nào?

    Duy trì động lực học tập: Có cách nào khác ngoài phần thưởng?

    Duy trì động lực học tập cho sinh viên: phần thưởng và cơ chế của não bộ

    Mối quan hệ giữa hoạt động thể chất và việc cải thiện các hành vi lớp học

    NO COMMENTS