Các câu hỏi thường gặp về Kiến tạo

    1
    11235

    Thuyết Kiến tạo đang là một chủ đề nóng trên các diễn đàn giáo dục và người ta bắt đầu đặt ra nhiều câu hỏi về nó. Thật khó để xác định đâu mới là định nghĩa “chuẩn” nhất về học thuyết này do các nguồn tài liệu về Kiến tạo bao gồm cả các ý kiến ủng hộ và phản bác vô cùng phong phú trên Internet. Với mong muốn đưa ra một cách tiếp cận dễ hiểu nhất với bạn đọc, chúng tôi đã thu thập tài liệu, phân tích và biên soạn nội dung trả lời cho những câu hỏi thường gặp nhất về học thuyết này. Các câu hỏi và nội dung trả lời sẽ còn được cập nhật liên tục…

    1.    Kiến tạo là gì?[1]

    Nhiều người nhầm lẫn thuyết Kiến tạo (Constructivism) là một phương pháp học, nhưng trên thực tế thuyết Kiến tạo được dùng để gán cho rất nhiều thứ khác nhau trong giáo dục và thậm chí là rộng hơn trong các ngành khoa học xã hội, khiến cho mọi người khi nói chuyện (và viết) về nó mà quên mất định rõ nội hàm.

    Định nghĩa về thuyết Kiến tạo:

    Thuyết kiến tạo (constructivism) là cách tiếp cận giảng dạy và học tập cho rằng con
    người chủ động tự xây dựng hiểu biết về thông tin cho bản thân – người học kết nối thông
    tin mới với thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa với cá nhân đó. Theo quan điểm
    của thuyết kiến tạo, con người xây dựng kiến thức của riêng họ và thể hiện kiến thức từ
    trải nghiệm của mình. Việc học tập không phải diễn ra nhờ quá trình chuyển thông tin từ
    giáo viên hay giáo trình đến bộ não của học sinh; thay vào đó, mỗi người học tự xây dựng
    hiểu biết hợp lý mang tính cá nhân của riêng họ.

    (Nguồn: Sách XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN – Một cách tiếp cận kiến tạo – để nhập môn Giáo dục học)

    Có thể nói, thuyết Kiến tạo là một lí thuyết về học tập, chính xác hơn, là một chuỗi các lí thuyết và mô hình về học tập. Trong ngữ cảnh này, thuyết Kiến tạo là trọng tâm của nguyên lí cốt lõi rằng việc học đòi hỏi sự năng động trong tạo lập tri thức bởi chính người học. Các quan điểm kiến tạo cũng nhận ra rằng tri thức được tạo bởi cá nhân phụ thuộc nhiều vào các khuôn mẫu diễn giải (interpretive framework) mà thông qua đó thông tin mới được sàng lọc.

    2.    Có mấy loại hình Kiến tạo?[2]

    • Thuyết Kiến tạo cơ bản

    Tiếng Anh là Radical Constructivism, nhiều văn bản còn gọi là Personal Constructivism, (thuyết Kiến tạo cá nhân) hoặc đôi khi chỉ gọi là Constructivism. Cha đẻ của thuyết này là nhà Tâm lý học người Thụy Sỹ Jean Piaget. Ông mô tả rằng tri thức là sản phẩm của hoạt động tạo ra bởi chủ thể thông qua trải nghiệm cá nhân. Tri thức mới bao giờ cũng được hình thành từ tri thức cũ. Chính vì thế, thuyết này còn được gọi với một cái tên theo đúng bản chất là Kiến tạo nội sinh.

    • Thuyết Kiến tạo Xã hội

    Tiếng Anh là Social Constructivism. Cha đẻ của thuyết Kiến tạo xã hội là nhà tâm lý học người Nga Lev Vygosky, với giả thuyết rằng tri thức phải được hiểu như là một thứ được kích hoạt trong các tương tác xã hội (và nhất thiết phải phụ thuộc bối cảnh), qua sự tương tác, tranh luận, trao đổi trong cộng đồng.

    • Mối quan hệ của các học thuyết này?

    Thuyết kiến tạo cơ bản tập trung vào quá trình kiến tạo tri thức của các cá nhân riêng biệt, đề cao vai trò cá nhân, tính chủ động tích cực của cá nhân. Trong khi đó, Kiến tạo xã hội tập trung vào các bối cảnh xã hội của việc học, đề cao tính tương tác xã hội và việc khai thác các điều kiện xã hội trong việc sản xuất ra tri thức.

    Đôi khi các quan điểm này được xem như đối lập, song nếu nhìn dưới góc độ “tương đối”, có thể hiểu đơn giản mỗi người sẽ có một mô hình về thế giới cho riêng mình, tuy nhiên vì con người không hoạt động trong trạng thái cô lập mà hoạt động trong sự tương tác với xã hội và tự nhiên. Mô hình về thế giới (tri thức) mà mỗi người tự xây dưng chính là công cụ để quan sát thế giới đó nên đòi hỏi mô hình ấy phải có sự tương thích với thế giới.

    3.    Những người có ảnh hưởng đến thuyết Kiến tạo

    Ngoài hai người có ảnh hưởng lớn đến thuyết Kiến tạo là Jean Piaget và Lev Vygosky như đã nêu trên, những người nghiên cứu có ảnh hưởng đến Kiến tạo phải kể đến:

    • John Dewey (1859–1952);
    • Maria Montessori (1870–1952);
    • Władysław Strzemiński (1893–1952);
    • Heinz vonFoer ster (1911–2002);
    • Jerome Bruner (1915-);
    • Herbert Simon (1916–2001);
    • Paul Watzlawick (1921–2007);
    • Ernst von Glasersfeld (1917–2010);
    • Edgar Morin (1921-)

    4.    Các phương pháp giảng dạy Kiến tạo?

    Một số phương pháp giảng dạy Kiến tạo phổ biến trong các nhà trường có thể kể đến như:
    • Học tập tích cực (Active learning)
    • Học bằng việc làm (Learning by doing)
    • Lấy học sinh làm trung tâm (Student-centered)
    • Học tập qua vấn đề (Problem-based learning)
    • Học tập qua dự án (Project-based learning
    • Học tập qua trải nghiệm (Experiential learning)
    • Học tập qua khám phá (Discovery learning)
    • Học tập gợi mở (Inquiry-based learning)
    • Học tập theo nhóm (Group learning)…

    Để tìm hiểu thêm thông tin về các phương pháp này, xin vui lòng xem tại đây: http://neoedu.fpt.edu.vn/category/ly-thuyet-hoc-tap/http://www.learning-theories.com/

    5.    Thế nào là một người học Kiến tạo?[3]

    Dưới đây là một số đặc điểm của người học Kiến tạo:
    1. Người học kiến tạo cần phải có cơ hội đặt câu hỏi, đưa ra những giả thuyết và thử tính xác thực;
    2. Được thử thách bằng những ý tưởng, kinh nghiệm và tạo ra những mâu thuẫn hoặc bất đồng về nhận thức bên trong. Những lỗi của người học cần được nhìn nhận một cách tích cực như là các cơ hội để cả người học và người dạy cùng khám phá việc hiểu các khái niệm;
    3. Người học cần có thời gian để tham gia vào quá trình phản tư (reflection) thông qua việc viết nhật ký (journal writing) và thảo luận. Việc học diễn ra trong suốt quá trình trừu tượng hóa khái niệm (reflective abstraction);
    4. Môi trường học tập cần cung cấp các cơ hội phong phú cho hội thoại, và lớp học phải được nhìn nhận như là cộng đồng chia sẻ (community of discourse) tham gia vào hoạt động, phản tư và hội thoại” (Fosnot, 1989);
    5. Trong cộng đồng người học, chính người học là người phải truyền tải ý tưởng của mình cho người khác, bảo vệ các ý tưởng đó;
    6. Người học nên làm việc với các ý tưởng lớn, các nguyên tắc tổ chức tập trung có khả năng để khái quát các kinh nghiệm và nguyên tắc.

    6.    Thế nào là một giáo viên Kiến tạo?[4] ;[5]

    Một giáo viên Kiến tạo thường có những đặc điểm sau đây:
      1. Giáo viên khơi dậy suy nghĩ cho người học, giúp họ thực hành học tập ý nghĩa và hiểu sâu vấn đề, vận dụng được vào các ngữ cảnh của đời sống.
      2. Giáo viên lựa chọn những nhiệm vụ học tập sát với thực tế (authentic task), các câu hỏi bậc cao (high order questions);
      3. Khung chương trình dẫn dắt giáo viên đến việc kết hợp các chiến lược khuyến khích việc kiến tạo tri thức thông qua các quá trình học tập xã hội, ở đó, sinh viên phát triển việc hiểu biết của mình thông qua các tương tác với giáo viên và bạn học.
      4. Các bài học theo kiến tạo phải có mục tiêu về nội dung rõ ràng được thiết kế dựa trên nhiệm vụ, câu hỏi hoặc vấn đề học tập sát với thực tế.
      5. Giáo viên lựa chọn nhiều cách thức khác nhau để đưa ra ý tưởng trong bài học, từ đó cho người học những cách kết nối, tích hợp việc học
      6. Giáo viên đưa ra những câu hỏi để giúp người học tư duy hiệu quả, và khéo léo cung cấp các hướng dẫn học tập giúp họ kiến tạo ý nghĩa từ lớp học và kinh nghiệm cuộc sống.
      7. Giáo viên kiến tạo khuyến khích và chấp nhận sự tự quản và sáng tạo của sinh viên;
      8. Giáo viên sử dụng các dữ liệu thô và tài nguyên cơ bản nhất cùng với các tư liệu lôi cuốn, có tính tương tác và tự nhiên (physical materials);
      9. Giáo viên cho sinh viên nói ra những gì họ đã hiểu về khái niệm trước khi chia sẻ sự hiểu biết của mình về các khái niệm đó;
      10. Giáo viên kiến tạo khuyến khích người học tham gia vào các đoạn hội thoại cùng giáo viên và với bạn cùng lớp;
      11. Khuyến khích sinh viên tìm hiểu vấn đề bằng cách hỏi những câu hỏi mở, có chiều sâu;
      12. Cho người học có thời gian để suy nghĩ, kiến tạo các mối liên quan và sáng tạo phép ẩn dụ trước khi trả lời.
      13. Giáo viên kiến tạo nuôi dưỡng sự tò mò của người học thông qua việc thường xuyên sử dụng mô hình chu trình học (learning cycle model).

    (Còn tiếp….)

    Nguyễn Thị Vân | Dự án CNGD

     Chú thích và nguồn tham khảo:

    [1] Sigmund Tobias and Thomas M. Duffy (2009), Constructivist Instruction: Success or Failure? Routledge; 1st edition.

    [2] Sigmund Tobias and Thomas M. Duffy (2009), Constructivist Instruction: Success or Failure? Routledge; 1st edition.

    [4] Confrey, 1990; Brooks & Brooks, 1993; Fosnot, 1996, Constructivism in theory and practice: toward a better understanding

    [5] Jacqueline Grennon Brooks and Martin G. Brooks, In Search of Understanding: The Case for Constructivist Classroom, Revised Edition, Association for Supervision and Curriculum Development (CSCD).

    1 COMMENT

    Comments are closed.