9 quan niệm sai lầm về quốc tế hóa giáo dục đại học

    0
    2808

    Quốc tế hóa giáo dục đại học ở châu Âu đã phát triển hơn 20 năm qua, từ một mối quan tâm được cho là bên lề trở thành nhân tố trung tâm – và  cũng được gọi là trọng yếu trong tiến trình quốc tế hóa nói chung. Không thể phủ nhận rằng, công cuộc toàn cầu hóa của các xã hội và các nền kinh tế đã mở rộng ảnh hưởng của sự cạnh tranh và việc tiếp cận thị trường theo cách mà quá trình quốc tế hóa đang diễn ra. Quốc tế hóa phân biệt các động cơ và phương pháp tiếp cận. Quá trình quốc tế hóa giả định cách tiếp cận dựa trên quá trình, nhằm hướng tới một hệ thống giáo dục đại học chất lượng hơn và năng lực của cán bộ và sinh viên cao hơn. Tuy nhiên, thực tế thì chưa đạt được như vậy, mặc dù định hướng quốc tế hóa ngày càng có vai trò trung tâm trong giáo dục đại học. Hơn nữa, còn có cách tiếp cận  theo định hướng hoạt động là chủ yếu hoặc thậm chí là định hướng công cụ hướng tới quá trình quốc tế hóa, điều này dẫn đến những sai lầm lớn trong quan niệm về bản chất của sự phát triển này.

    9 sai lầm đó được mô tả như sau:

    Internationalization in European higher education has developed over the last 20 years, from a marginal point of interest to a central factor—also called a mainstreaming of internationalization.  The mainstreaming of internationalization assumes a more integral process-based approach, aimed at a better quality of higher education and competencies of staff and students. Reality is less promising, however, although the international dimension takes an
    increasingly central role in higher education. Still, there is a predominantly activity-oriented or even instrumental approach toward internationalization, which leads to major misconceptions about the nature of this development. Nine misconceptions will be described as followed:

    1. Giảng dạy sử dụng tiếng Anh

    Sự ảnh hưởng của tiếng Anh như một phương tiện giao tiếp trong nghiên cứu đã thống trị trong một thời gian dài. Ngoài ra, trong vòng 20 năm qua, một xu hướng trong giáo dục đại học là giảng dạy bằng tiếng Anh, dùng là một phương án thay thế cho việc giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ cho một đối tượng người học nào đó. Có một số tác động tiêu cực ngoài ý muốn.

    Giảng dạy bằng tiếng Anh ngày càng được coi tương đương với tiến trình quốc tế hóa, và kết quả là người ta không chú ý nhiều tới các ngoại ngữ khác; và cả việc không dành đủ sự chú tâm tới chất lượng tiếng Anh của những giáo viên và sinh viên mà ngôn ngữ bản địa không phải là tiếng Anh và do đó làm giảm chất lượng giáo dục.

    2. Học tập hay sống ở nước ngoài

    Một khóa học hay một khóa thực tập ở nước ngoài như là một phần của quá trình học tập trong nước thường được coi tương đương là quốc tế hóa. Đặc biệt, chính sách của Ủy ban châu Âu để kích thích sự trao đổi sinh viên theo cách này đã góp phần vào cách tiếp cận công cụ trong suốt hơn 25 năm qua. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu cách tiếp cận thiếu cân bằng và quá đơn giản đối với việc thay đổi địa điểm học có phù hợp với hoạt động quốc tế hóa.

    Cũng như vậy, có thể nói rằng sự di chuyển nơi học chỉ đơn thuần là một công cụ để thúc đẩy quốc tế hóa và bản chất nó không phải một mục tiêu. Chuyển đổi nơi học cần phải được coi là một hoạt động trong quá trình quốc tế hóa giáo dục. Cần phải xác định liệu rằng những giá trị gia tăng này có được phát triển trong mỗi sinh viên; và các hoạt động giáo dục cũng cần được đổi mới hơn có cần được áp dụng để đạt được các giá trị này, ví dụ như hệ thống giáo dục từ xa hay hệ thống giảng dạy ảo.

    3. Nội dung chương trình quốc tế

    Một quan niệm sai lầm thứ ba vẫn tiếp tục nổi lên là việc đánh đồng quốc tế hóa với việc cung cấp các khóa học dựa trên nội dung mang tính quốc tế như nghiên cứu châu Âu, kinh doanh quốc tế, hoặc âm nhạc quốc tế. Trong các tổ chức và các trường cung cấp các chương trình dạng này, các ý kiến ​​chủ đạo thường là, theo cách này thì quá trình quốc tế hóa đã được thực hiện đúng. Không thể chối bỏ sự giá trị của các chương trình như vậy, tuy nhiên, một lần nữa, có thể nói quá đơn giản và mang tính chất công cụ khi lập luận và tuyên bố rằng những môn học nghiên cứu khu vực học đồng nghĩa với quốc tế hóa.

    4. Có nhiều sinh viên quốc tế

    Quan niệm sai lầm thứ tư là việc giả định rằng có nhiều sinh viên quốc tế nghĩa là quốc tế hóa. Không thể phủ nhận rằng sự kết hợp giữa sinh viên trong nước và sinh viên quốc tế trong giảng đường là một đóng góp đáng kể cho quá trình quốc tế hóa, nhưng đơn giản chỉ có sinh viên quốc tế là không đủ. Thật không may, có thể đưa ra vô số ví dụ về các chương trình hay sự kiện được định hướng không dành cho sinh viên quốc tế hoặc sinh viên quốc tế bị đối xử như là một nhóm cô lập.

    5. Một số ít sinh viên quốc tế vẫn đảm bảo sự thành công

    Quan niệm ngược lại với quan niệm sai lầm vừa kể trên cũng xảy ra. Cụ thể, nhiều chương trình quốc tế có tỷ lệ không cân bằng giữa số lượng sinh viên trong nước và sinh viên quốc tế. Một phần là kết quả của sự cạnh tranh ngày càng tăng giữa các quốc gia để giành giật sinh viên quốc tế, tỷ lệ giữa sinh viên trong nước và quốc tế ngày càng trở nên không đồng đều. Do đó, người ta khó có thể nói về một môi trường lớp học quốc tế. Ngược lại, sự phát triển này có ảnh hưởng tiêu cực đến việc quốc tế hóa chính thống của các chương trình không giảng dạy bằng tiếng Anh. Sinh viên trong nước, dù có hay không được động viên, thì cũng có mong muốn ở một mức nào đó là được ghi danh vào các chương trình quốc tế, điều đó có nghĩa là sự hứng thú dành giáo dục chính thống đang được giảng dạy bằng các ngôn ngữ địa phương ngày càng giảm.

    Ngoài ra, trong các chương trình học này, sự hiện diện của một số ít sinh viên quốc tế tạo ra những căng thẳng nhất định. Các khóa học sẽ phải được giảng dạy bằng tiếng Anh không nếu có chỉ có một hoặc hai học sinh quốc tế trong giảng đường? Làm thế nào có thể giúp sinh viên quốc tế thể hiện và được ghi nhận với một tỷ lệ nhỏ như vậy?

    wordle

    6. Không cần kiểm tra năng lực liên văn hóa và năng lực quốc tế của sinh viên quốc tế

    Quan niệm sai lầm thứ sáu cho rằng sinh viên thường có được năng lực liên văn hóa và năng lực quốc tế nếu họ học tập hay thực tập ở nước ngoài hoặc tham gia một lớp học quốc tế. Quan niệm sai lầm này là có liên quan chặt chẽ với những sai lầm kể trên về sự thay đổi nơi học, giảng dạy bằng tiếng Anh, và sự hiện diện của sinh viên quốc tế. Nếu những hoạt động và các công cụ này được coi là tương đồng với hoạt động quốc tế hóa, thế thì hiển nhiên phải cho rằng năng lực liên văn hóa và năng lực quốc tế cũng sẽ được sinh viên hấp thụ. Một lần nữa, thực tế phức tạp hơn như vậy nhiều. Không thể đảm bảo ngay từ đầu rằng các hoạt động này thực sự sẽ dẫn đến kết quả đó. Cuối cùng thì tự các sinh viên phải tạo hội nhóm cùng nhau và chia sẻ kinh nghiệm với các sinh viên khác và các nhóm người khác nhau trong xã hội ở quốc gia mà họ đặt chân tới.

    7. Càng nhiều đối tác, tính quốc tế càng cao

    Quan niệm sai lầm thứ bảy trong vấn đề quốc tế hóa là tập trung vào mối quan hệ: đối tác càng nhiều, thành công trong quốc tế hóa càng cao. Toàn cầu hóa, cạnh tranh và xử lý thị trường đã củng cố sự phát triển hướng tới quan hệ đối tác chiến lược. Tuy nhiên, khuynh hướng quan hệ đối tác chiến lược thường sẽ dừng ở mức ý tưởng, dự định. Phần lớn các quan hệ hợp tác là trao đổi hai chiều, và ở một số cơ sở giáo dục và trường học, số lượng sinh viên và giáo viên thực tế vượt xa số lượng của sinh và giáo viên được trao đổi.

    8. Giáo dục đại học – tính quốc tế từ trong bản chất

    Tại các trường đại học và trong cộng đồng các nhà nghiên cứu ở các trường đó, người ta có thể xác định đặc tính quốc tế thực sự, do đó không cần phải kích thích và định hướng quá trình quốc tế hóa diễn ra. Quốc tế hóa không đến một cách tự nhiên trong các trường đại học bách khoa và các trường đại học khoa học ứng dụng mà cần phải được giới thiệu. Đó là lý do tại sao định nghĩa về quốc tế hóa được chấp nhận rộng rãi bởi Jane Knight đề cập đến quá trình hội nhập.

    9. Quốc tế hóa như là một mục tiêu

    Hầu hết các quans niệm sai lầm nêu quan niệm trên đều coi một hoạt động hoặc một công cụ tương đương với quốc tế hóa. Ngoài ra hiện nay cũng xuất hiện quan niệm sai lầm liên quan đến việc coi quốc tế hóa như là một mục tiêu chính. Quốc tế hóa là quá trình giới thiệu các khái niệm liên văn hóa, quốc tế và toàn cầu trong giáo dục đại học; để cải thiện các mục tiêu, chức năng, và việc truyền tải các sản phẩm của giáo dục đại học; do đó hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu. Nếu quốc tế hóa được coi là một mục tiêu cụ thể, nó sẽ dễ bị trở thành không có kế hoạch và cho thành ngoài lề.

    Để hiểu được những thách thức và cơ hội của quốc tế hóa giáo dục đại học, rất cần nhận ra rằng những quan niệm sai lầm này vẫn còn khá phổ biến.

    Thu Hương – Dịch

    Nguồn: Hans de Wit, Internationalization of Higher Education: Nine Misconceptions, International Higher Education Journal, number 64, summer 2011, pp. 6-7

    NO COMMENTS