8 yếu tố quan trọng khi triển khai PBL

    0
    687

    Trong lớp khoa học tại một trường trung học phổ thông, cô McIntyre đặt một tập hồ sơ lên bàn của mỗi học sinh và công bố một “dự án”. Mỗi học sinh sẽ tạo một poster về một loại vi khuẩn sinh sản trong môi trường nước có thể gây hại cho con người, các ảnh hưởng của vi khuẩn, cách phòng và trị bệnh. Các tài liệu được phát  bao gồm: một bài tập với thời hạn nộp bài và cách thức đánh giá, một bảng các tiêu chí đánh giá (rubric), một hướng dẫn thiết kế poster, và một danh sách các website và sách tham khảo. Giáo viên sẽ cho trưng bày các poster tốt nhất.

    Nghe có vẻ quen thuộc? Khi bạn đi học, bạn có được làm các poster, tranh lập thể, mô hình nhà cao tầng hoặc núi lửa? Nếu bạn là giáo viên, bạn có yêu cầu các sinh viên nghiên cứu một chủ đề và trình bày các thông tin bằng PowerPoint? Đây là những ví dụ quá phổ biến về các bài tập có ý nghĩa mà giáo viên mô tả như các dự án. Lớp học đầy các poster có thể khẳng định rằng học sinh đã được tham gia vào việc học tập có ý nghĩa. Nhưng quá trình học tập của học sinh và độ sâu của sự tham gia có nhận thức  –  chứ không phải sản phẩm cuối cùng – sẽ phân biệt dự án học tập với dự án thông thường.

    Một dự án tốt cần những gì?

    Một dự án có ý nghĩa nếu nó đáp ứng hai tiêu chí. Một là sinh viên phải cảm nhận được nó có ý nghĩa cá nhân, như là một nhiệm vụ họ muốn làm tốt. Hai là dự án đó đáp ứng được một mục tiêu giáo dục. Thiết kế và thực hiện tốt học tập qua dự án (Project Based Learning – PBL) là có ý nghĩa theo cả hai tiêu chí.

    Các nhà giáo dục tại Viện Giáo dục Buck đã xác định tám yếu tố cần thiết của một dự án có ý nghĩa:

    1. Nội dung có ý nghĩa (Significant content)
    2. Nhu cầu muốn biết (A Need to Know)
    3. Câu hỏi định hướng (A Driving Question)
    4. Tiếng nói và lựa chọn của sinh viên (Student Voice and Choice)
    5. Năng lực thế kỷ 21 (21st Century Competencies)
    6. Tìm hiểu sâu (In-Depth Inquiry)
    7. Phê bình và sửa đổi (Critique and Revision)
    8. Trình bày công khai (Public Audience)

    Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu mỗi yếu tố bằng cách xem cô McIntyre đã có thể tạo ra một dự án có ý nghĩa thay vì chỉ chuẩn bị các tập tài liệu cho học sinh.

    Yếu tố 1. Nội dung có ý nghĩa (Significant content)

    Quay lại thời điểm khi cô McIntyre bắt đầu lên kế hoạch cho dự án, cô bắt đầu với các tiêu chuẩn nội dung của chính mình. Cô biết các tiêu chuẩn về vi sinh vật và bệnh tật đã được phản ánh trong danh mục kiểm tra của bang và quan điểm riêng của cô cho rằng đây là một chủ đề quan trọng mà những người trẻ tuổi cần hiểu. Cô cũng nghĩ rằng học sinh của cô sẽ thấy chủ đề này quan trọng, vì vi khuẩn và bệnh tật có tác động trực tiếp tới cuộc sống của họ.

    Dựa trên khuôn mẫu cũ, dạy học qua dự án (PBL) đôi khi bị lầm tưởng là một phương tiện không hiệu quả cho nội dung giảng dạy. Trong khi sự thật là giáo viên không thể “bao phủ” được nhiều kiến thức bằng hình thức thuyết giảng, bảng tính, sách giáo khoa như lượng kiến thức được phủ bởi một dự án. Học sinh trải qua một dự án được thiết kế tốt sẽ hiểu được nội dung kiến thức sâu sắc hơn. Giáo viên nên có kế hoạch thiết kế một dự án tập trung vào những kiến thức quan trọng và các khái niệm bắt nguồn từ các tiêu chuẩn. Các nội dung cũng cần phản ánh những gì giáo viên cho là cần thiết để hiểu về chủ đề. Và học sinh sẽ tìm thấy nội dung đó có ý nghĩa trong cuộc sống và lợi ích riêng của họ.

    Yếu tố 2. Nhu cầu muốn biết (A Need to Know)

    Hãy tưởng tượng, vào ngày đầu tiên của bài học bệnh truyền nhiễm, cô McIntyre chiếu một đoạn video miêu tả cảnh đẹp của một bãi biển, kết thúc với dòng chữ: “Biển đóng cửa: Nước bị ô nhiễm”. Giả sử việc xem video này dẫn đến một cuộc thảo luận sôi động (đôi khi quá khích) khi học sinh chia sẻ kinh nghiệm về chất lượng nguồn nước đáng ngờ, thảo luận về những khoảng thời gian và lí do bãi biển bị đóng cửa. Sau đó giáo viên có thể giới thiệu dự án bằng cách nói với học sinh rằng chúng sẽ được học thêm về ô nhiễm đại dương và hành động để chống lại nó.

    Giáo viên có thể kích hoạt mạnh mẽ nhu cầu muốn biết nội dung của học sinh bằng cách mở đầu dự án với một “sự kiện mở đầu” mà  học sinh quan tâm và bắt đầu đặt câu hỏi. Một sự kiện mở đầu có thể là bất cứ điều gì: một video, một cuộc thảo luận sôi nổi, một diễn giả, một chuyến đi thực địa, hoặc thiết lập một kịch bản giả định. Ngược lại, công bố một dự án với một loạt  giấy tờ dường như dập tắt nhu cầu muốn tìm hiểu của học sinh; giống như một khúc dạo đầu cho một dự án thông thường.

    Nhiều học sinh nhận thấy hoạt động ở trường là vô nghĩa vì chúng không nhận thức được kiến thức chúng đang được dạy có phải là nhu cầu mà chúng muốn biết hay không. Học sinh không có động lực học tập bởi những gợi ý của giáo viên như: em nên học cái này bởi vì em sẽ cần nó trong cuộc sống sau này, hoặc cho các khóa học tiếp theo, hoặc đơn giản chỉ vì nó sẽ có trong bài thi. Với một dự án hấp dẫn học sinh, lý do cho học tập kiến thức liên quan trở nên rõ ràng: Tôi cần biết điều này để đối mặt với những thách thức tôi đã chấp nhận.

    Yếu tố 3. Câu hỏi định hướng (A Driving Question)

    Sau khi thảo luận về tình trạng ô nhiễm bãi biển, cô McIntyre hướng dẫn học sinh động não (brainstorming) để tìm các giải pháp có thể, chẳng hạn như việc ban hành luật, thiết kế hệ thống xử lý chất thải tốt hơn, và nâng cao nhận thức cộng đồng về sự cần thiết phải giảm thiểu các chất gây ô nhiễm. Học sinh đã tạo ra một câu hỏi định hướng để tập trung nỗ lực vào một nhiệm vụ cụ thể: Làm thế nào chúng ta có thể giảm bớt số ngày bãi biển Foster bị đóng cửa vì chất lượng nước thấp?

    Một câu hỏi định hướng tốt nắm bắt được trọng tâm của dự án bằng ngôn ngữ rõ ràng, hấp dẫn, mang đến cho học sinh một cảm giác về mục đích và thách thức. Câu hỏi nên có tính kích thích, mở, phức tạp, và liên kết với cốt lõi những gì bạn muốn học sinh học. Nó có thể là trừu tượng (Khi nào chiến tranh là chính đáng?) rõ ràng (Nước để uống có an toàn?); hoặc tập trung vào việc giải quyết một vấn đề (Làm thế nào chúng ta có thể cải thiện trang web này để nhiều người trẻ sử dụng nó?).

    Một dự án không có câu hỏi định hướng giống như một bài luận không có chính đề. Nếu không có câu chính đề, người đọc có thể phải tự nhặt ra những điểm chính mà người viết đang cố gắng trình bày; nhưng với một câu chính đề, các điểm chính sẽ không thể bị nhầm lẫn. Nếu không có một câu hỏi định hướng, học sinh có thể không hiểu lý do vì sao phải thực hiện dự án. Chúng biết rằng hàng loạt các hoạt động được giao có kết nối với một khoảng thời gian, một địa điểm, hay khái niệm. Nhưng nếu bạn hỏi “Các hoạt động này là để làm gì?”, chúng chỉ có thể có thể trả lời “Chúng em đang làm một poster”.

    Yếu tố 4. Tiếng nói và lựa chọn của học sinh (Student Voice and Choice)

    Một khi sự thích thú của học sinh đã được khơi gợi bởi một câu hỏi đầy thử thách, cô McIntyre giải thích các yêu cầu cho dự án ” Đừng đóng cửa biển” bao gồm một bài viết cá nhân, một sản phẩm học sinh lựa chọn được tạo bởi các nhóm, và một bài thuyết trình về công việc chúng làm liên quan đến công nghệ truyền thông. Học sinh lựa chọn để phát triển bộ công cụ truyền thông cho các nhà báo, thông báo dịch vụ video công cộng, website, tài liệu quảng cáo, và thư cho quan chức chính phủ và các nhà máy, cùng các sản phẩm khác.

    Yếu tố này là cốt lõi của dạy học qua dự án. Để làm cho học sinh cảm thấy dự án có ý nghĩa, càng cho học sinh có nhiều tiếng nói và lựa chọn hơn càng tốt. Tuy nhiên, giáo viên nên thiết kế các dự án với mức độ cho học sinh lựa chọn phù hợp với phong cách của chính mình và của học sinh.

    Trong quy mô lựa chọn được giới hạn, người học có thể lựa chọn chủ đề nghiên cứu trong phạm vi câu hỏi định hướng chung hoặc chọn cách thiết kế, tạo ra và trình bày các sản phẩm. Ở vị trí trung lập, giáo viên có thể cung cấp một danh sách có giới hạn các sản phẩm sáng tạo để ngăn học sinh khỏi bị choáng ngợp bởi các lựa chọn. Trong quy mô “càng nhiều càng tốt”, học sinh có thể quyết định những sản phẩm mà chúng sẽ tạo ra, những nguồn lực mà chúng sẽ sử dụng, và làm thế nào chúng có thể thiết lập thời gian cho phù hợp. Thậm chí học sinh có thể lựa chọn đề tài của dự án và câu hỏi định hướng.

    Yếu tố 5. Năng lực thế kỷ 21 (21st Century Competencies)

    Một khi học sinh của cô McIntyre đã quyết thực hiện hoạt động giúp chúng trả lời câu hỏi định hướng, chúng sẽ bắt đầu. Hợp tác là trọng tâm của dự án. Học sinh hình thành nhóm có ba hoặc bốn thành viên và bắt đầu lên kế hoạch cho những công việc mà chúng sẽ làm và cách chúng làm việc cùng nhau như thế nào.

    Khi chúng làm việc, mỗi đội thường xuyên ngừng lại để xem xét cách chúng đã cộng tác và phối hợp với nhau tốt như thế nào, sử dụng bảng tiêu chí đánh giá (rubric) mà giáo viên đã tạo ra. Để thúc đẩy kỹ năng hợp tác, cô McIntyre sử dụng hoạt động đóng vai và xây dựng nhóm. Cô chỉ cho học sinh cách thức sử dụng thời gian và phân công nhiệm vụ. Chúng thực hành kỹ năng thuyết trình và học cách tạo ra những video và podcast. Trong quá trình thực hiện, học sinh phản ánh quá trình tư duy và giải quyết vấn đề mà chúng biết rằng chúng sẽ cần phải giải thích trong bài thuyết trình của mình.

    Một dự án nên cung cấp cho học sinh cơ hội để xây dựng các năng lực của thế kỷ 21 như tư duy phản biện (critical thinking), hợp tác (collaboration), giao tiếp (communication), và sáng tạo/đổi mới (creativity/innovation), sẽ có ích cho chúng ở nơi làm việc và cuộc sống. Sự tiếp xúc với các kỹ năng đích thực đáp ứng tiêu chí thứ hai của làm việc có ý nghĩa.Rõ ràng một giáo viên trong môi trường học tập qua dự án dạy và đánh giá các kỹ năng này, và cung cấp cơ hội thường xuyên cho học sinh tự đánh giá chính mình.

    Yếu tố 6. Tìm hiểu sâu (In-Depth Inquiry)

    Sau cuộc thảo luận về ô nhiễm và lựa chọn câu hỏi định hướng, học sinh của cô McIntyre xây dựng một danh sách các câu hỏi chi tiết hơn về bệnh tật, vi khuẩn và các tác động của chúng, và nguồn nước bị ô nhiễm. Những câu hỏi này bao gồm: Những bệnh nào bạn có thể bị nhiễm do nước? Bạn uống nó nên bị nhiễm bệnh? Vi khuẩn đến từ đâu? Các đội tinh chỉnh các câu hỏi và thảo luận để tìm ra câu trả lời từ giáo viên, sách, báo, website, chuyên gia, và đến thăm các bãi biển Foster.

    Khi những học sinh này tìm thấy câu trả lời, chúng đề xuất và nghiên cứu những câu hỏi mới. Học sinh tổng hợp các thông tin mà chúng thu thập được và sử dụng nó để viết thành các bài viết cá nhân theo câu hỏi định hướng và tạo ra sản phẩm của nhóm có liên quan đến câu hỏi đó.

    Học sinh nhận thấy làm dự án có ý nghĩa hơn nếu họ được yêu cầu tiến hành tìm hiểu thực sự – không có nghĩa là tìm kiếm thông tin trong sách hoặc website và dán nó vào poster. Trong khi tìm hiểu thực tế, học sinh theo một lối mòn, bắt đầu bằng câu hỏi của chính mình, dẫn đến việc tìm kiếm các nguồn tài nguyên và khám phá câu trả lời, và cuối cùng dẫn đến việc tạo ra những câu hỏi mới, thử nghiệm ý tưởng, và rút ra kết luận của riêng mình. Với yêu cầu đổi mới tìm hiểu thực sự – một câu trả lời mới cho câu hỏi định hướng, một sản phẩm mới, một giải pháp mới cho một vấn đề. Giáo viên không yêu cầu học sinh chỉ đơn giản là sao chép thông tin mà giáo viên hoặc sách giáo khoa cung cấp trong một định dạng đẹp mắt.

    Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu thực tế, yêu cầu chúng tham khảo danh sách các câu hỏi mà chúng tạo ra sau các sự kiện mở đầu. Hướng dẫn chúng cách thêm vào danh sách này những điều mới chúng phát hiện ra. Văn hóa lớp học nên coi trọng việc đặt câu hỏi, nêu giả thuyết, và sẵn lòng chấp nhận những ý tưởng và quan điểm mới.

    Yêu cầu 7. Phê bình và sửa đổi (Critique and Revision)

    Khi phát triển các ý tưởng và sản phẩm, các nhóm xem xét và nhận xét công việc của các nhóm khác bằng cách tham khảo bảng tiêu chí đánh giá (rubric) và các bản mẫu. Cô McIntyre kiểm tra các bản ghi chép nghiên cứu, xem xét dự thảo và kế hoạch, và trao đổi với các nhóm để theo dõi sự tiến bộ của chúng.

    Chính thức hóa một quy trình phê bình và sửa đổi xuyên suốt một dự án làm cho việc học trở nên có ý nghĩa, vì nó nhấn mạnh việc tạo ra sản phẩm chất lượng cao và thành tích là mục đích quan trọng của nỗ lực. Học sinh cần phải học được rằng những nỗ lực đầu tiên thường không đem lại kết quả có chất lượng cao và rằng sửa đổi là một tính năng thông thường của công việc thực tế.

    Ngoài việc cung cấp thông tin phản hồi trực tiếp, giáo viên nên hướng dẫn học sinh sử dụng bảng tiêu chí đánh giá (rubric) hoặc các bộ tiêu chuẩn khác để phê bình tác phẩm của người khác. Giáo viên có thể sắp xếp để các chuyên gia hay người cố vấn cung cấp thông tin phản hồi, điều này đặc biệt có ý nghĩa với học sinh.

    Yếu tố 8.  Trưng bày công khai (Public Audience)

    Trong lớp học của cô McIntyre, các nhóm trình bày các phân tích về vấn đề ô nhiễm nguồn nước và đưa ra đề xuất của mình để giải quyết các vấn đề tại một đêm triển lãm. Các khán giả được mời bao gồm cha mẹ, học sinh cùng trường, và các đại diện cộng đồng, doanh nghiệp, và các tổ chức chính phủ.

    Học sinh trả lời các câu hỏi và phản tỉnh về cách hoàn thành dự án, các bước chúng đã có thể vấp phải và những gì chúng đã đạt được về kiến thức và kỹ năng.

    Sẽ có ý nghĩa hơn khi các hoạt động ở trường không chỉ là việc thực hiện những gì giáo viên yêu cầu hay làm bài kiểm tra. Khi học sinh trình bày công việc của mình cho một đối tượng thực sự, chúng sẽ quan tâm hơn về chất lượng công việc của mình. Một lần nữa, là “càng nhiều càng tốt” khi nói đến tính xác thực. Học sinh có thể sao chép lại các công việc được thực hiện bởi các chuyên gia – nhưng thậm chí tốt hơn, chúng có thể tạo ra sản phẩm thực sự mà những người bên ngoài trường sử dụng.

    Câu chuyện đằng sau

    Dự án mô tả ở đây được lấy cảm hứng từ một dự án thực tế, “Media Saves the Beach,” thực hiện bởi các học sinh tại trường High Tech High ở San Diego, California. Trong dự án thực tế, học sinh làm việc cùng các nhóm dân địa phương để ủng hộ giữ sạch bờ biển. Một số cơ quan chính phủ đã thông qua kinh phí cho quan trắc nước ở bãi biển này.

    Thực tế, một trong những sản phẩm học sinh tạo ra là một poster. Điều gì đã làm cho poster đó khác với một poster có ý nghĩa mà cô McIntyre đã giao? Học sinh trường High Tech High đã chọn làm poster vì đó là một cách hiệu quả để truyền đạt thông điệp của mình tại đêm triển lãm- và các nhóm sẽ đứng gần đó để giải thích. Để tạo ra các poster, học sinh tham gia vào một quá trình tìm hiểu, phê bình, và sửa đổi mở rộng. Chúng đã học được những điều quan trọng trong quá trình này. Tóm lại, thậm chí một poster có thể trở nên rất có ý nghĩa nếu nó là một phần của dự án thể hiện được tám yếu tố thiết yếu của Dạy học qua dự án.

    Lê Thị Thanh Hằng | Dịch từ tài liệu của John Larmer và John R. Mergendoller, PhD,  8 Essentials for Project-Based Learning, Buck Institute for Education

    NO COMMENTS